Thứ Tư, 10 tháng 8, 2011

KHẾ ƯỚC XÃ HỘI.



Đôi lời giới thiệu:

“Khế ước xã hội“ và “Tinh thần pháp luật” như là cặp anh em song sinh làm nền tảng cho nền cộng hòa. Chúng ta ước mong Quốc hội khóa XIII sẽ cải cách Hiến pháp 1992 để tạo nên một Hiến pháp 2011 “dân chủ gấp triệu lần tư sản”, như ngày xưa các lãnh tụ Cộng sản đã tuyên bố thì sướng lắm thay!


Jean Jacques Rousseau (1712-1778)

Khế ước xã hội (Contract Social)

Jean Jacques Rousseau (1712-1778) viết ra Khế ước xã hội và C.Montesquieu (1689-1755) viết Tinh thần pháp luật vào thế kỷ 18 – thế kỷ Ánh sáng Pháp.

Hai vị được gọi là hai nhà lập pháp của Cách mạng tư sản Pháp, cha đẻ của nền cộng hòa.

“Khế ước xã hội” nghĩa là “Bản hợp đồng xã hội” được ký giữa Nhân dân (bên A) và chính quyền (bên B).

Contract social


Khế ước xã hội trong triết học và chính trị học là một học thuyết mô tả việc con người cùng thỏa thuận từ bỏ trạng thái tự nhiên để xây dựng cuộc sống cộng đồng. Về mặt luật pháp, khế ước xã hội thể hiện cụ thể là một tờ khế ước (tức là một bản hợp đồng) trên đó các thành viên xã hội thống nhất các nguyên tắc để cùng chung sống với nhau.

Lý thuyết về khế ước xã hội lần đầu tiên được nhà triết học chính trị Anh Thomas Hobbes (1588 – 1679) đưa ra khi ông cho rằng con người ban đầu vốn sống ở trạng thái tự nhiên, trong tình trạng vô chính phủ, khi chưa hề có sự cưỡng bức có tổ chức lên mỗi cá nhân. Con người, qua khế ước xã hội, từ bỏ những quyền tự do tự nhiên của mình để được hưởng sự an toàn và trật tự của xã hội văn minh.

Theo Hobbes, con người sơ khai sống thành bầy đàn để cùng chống lại các kẻ thù, nhưng không có gì ràng buộc giữa họ. Quyền sở hữu không tồn tại dẫn đến chuyện tất cả mọi người đều có thể sở hữu tất cả mọi vật. Leviathan, hay trạng thái tự nhiên của loài người cũng là tên tác phẩm để đời của Hobbes, mô tả chính xác một sự hỗn độn vô chính phủ mà theo đó vì xã hội chưa công nhận rạch ròi thế nào là sở hữu cho nên mọi người có thể sẵn sàng gây chiến với người khác để giành lấy cái mình muốn. Xã hội Leviathan, tuy là xã hội tự do tuyệt đối, nhưng chẳng đem lại lợi ích cho bất kỳ ai kể cả kẻ mạnh, vì con người dù mạnh đến đâu cũng không thể đơn độc làm theo ý mình được. Con người buộc phải hy sinh một phần tự do để có thể chung sống với nhau trong hòa bình. Nói cách khác con người buộc phải thống nhất với nhau những nguyên tắc cộng đồng để tránh phải sống nơm nớp trong nỗi lo sợ bảo vệ tính mạng và những gì mình có.

Lý thuyết về khế ước xã hội được John Locke nhà triết học Anh kế thừa và phát triển. Locke xây dựng chi tiết cụ thể từng giai đoạn phát triển từ trạng thái tự nhiên dẫn đến sự hình thành nhà nước qua khế ước xã hội và đi đến quan điểm về chủ quyền của nhân dân đối với nhà nước dù cho đó là nhà nước chuyên chế. Được biết đến trước hết là một nhà triết học theo trường phái duy nghiệm (empiric), Locke cũng là một tư tưởng gia xuất sắc trên lĩnh vực chính trị và xã hội. Locke cố gắng giải thích trước hết quyền sở hữu được con người định nghĩa với nhau thông qua các thỏa hiệp. Bắt đầu từ việc chiếm hữu bằng sức mạnh, con người dần dần tìm cách sở hữu bằng lao động. Một khi vấn đề sở hữu được giải quyết, con người đã có đủ các tiền đề cần thiết để đi đến các thỏa hiệp cao hơn về cuộc sống cộng đồng. Khế ước xã hội chính là bản thỏa hiệp của các thành viên cộng đồng, theo đó một con người sẽ từ bỏ quyền tự do tự nhiên – đổi lại anh ta trở thành một thành viên, được cộng đồng che chở và công nhận. Đối với một quốc gia, nhà nước là tập hợp những người đại diện đứng ra bảo đảm sự tôn trọng bản thỏa ước.

Jean-Jacques Rousseau tiếp tục đi xa hơn khi cho rằng quyền lực phải được trao cho những người đại diện cho ý chí nguyện vọng của quần chúng. Trong tác phẩm “Du Contrat Social”(Khế ước xã hội) Rousseau, tiếp nối tư tưởng của Hobbes, đã mô tả quá trình hình thành các thỏa ước xã hội: một quá trình mà sức mạnh bắt đầu nhường chỗ cho định chế, lực (forces) nhường chỗ cho quyền (hay quyền lực: pouvoir, power). Chính trị ra đời như một nhu cầu tất yếu của loài người để tổ chức xã hội. Đối với một đất nước, Hiến pháp chính là bản Khế ước xã hội cơ bản nhất, nền tảng cho tất cả các thỏa ước khác của cộng đồng. Thông qua hiến pháp, con người chính thức đánh đổi quyền tự do tự nhiên để trở thành một công dân, chính thức đánh đổi một phần quyền tự do quyết định của mình vào tay một số người cầm quyền (và do đó anh ta trở thành người bị trị) để có được sự che chở của xã hội, đại diện bởi luật pháp. Để cho bản hợp đồng trao đổi này được công bằng, trong Khế ước xã hội cần phải định rõ nguyên tắc lựa chọn người cầm quyền. Nguyên tắc bình đẳng thể hiện ở chỗ ai cũng có thể lên nắm quyền miễn là được đa số thành viên ủng hộ. Về phía người cầm quyền, đối trọng với quyền lực anh ta có, là những ràng buộc về mặt trách nhiệm với cộng đồng. Nếu người cầm quyền không hoàn thành trách nhiệm của mình, bản hợp đồng giữa anh và cộng đồng bị coi như vô hiệu, và cộng đồng phải có quyền tìm ra một người thay thế mới.

Chính những ý tưởng này đã châm ngòi cho cả cuộc Cách mạng Pháp và Mỹ. Thomas Jefferson, một trong những người là Cha đẻ của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ và bản Tuyên ngôn Độc lập tiếp tục hoàn thiện lý thuyết khi cho rằng quyền tự nhiên của con người phải là một phần của khế ước xã hội và quyền lực của nhà nước chỉ có thể thực hiện khi xuất phát từ sự đồng thuận của chính những người bị trị.

Nhìn chung, khế ước xã hội thường được nhìn nhận dưới góc độ một xã hội, một quốc gia. Tuy nhiên tư tưởng về khế ước xã hội không hề bị giới hạn ở đó. Chỉ cần có hai người là đã có thể cho ra đời một bản thỏa ước (giữa họ). Doanh nghiệp chính là một trường hợp khác vận dụng tinh thần khế ước. Bản điều lệ doanh nghiệp chính là khế ước xã hội giữa những người góp vốn. Điều lệ doanh nghiệp quy định sự tồn tại, nguyên tắc hoạt động của doanh nghiệp, quyền lợi và nghĩa vụ của các thành viên. Giám đốc doanh nghiệp là người đại diện cho doanh nghiệp cũng như Chủ tịch nước là người đại diện cho đất nước, tuy rằng hai bản khế ước này không có cùng quy mô như nhau. Quan điểm chúng ta thường gặp là coi giám đốc doanh nghiệp cũng giống như nhân viên doanh nghiệp. Ông ta bị ràng buộc với doanh nghiệp bằng một hợp đồng lao động và được trả lương cao hơn vì công việc quản lý xứng đáng được trả lương cao hơn. Quan điểm này vấp phải một rào cản vô cùng lớn trong hệ thống luật các nước phát triển, nhất là luật của nước cộng hòa Pháp, quê hương của Rousseau. Khi Tổng thống phạm sai lầm, người ta không sa thải tổng thống như ban quản trị doanh nghiệp sa thải giám đốc. Nếu tinh thần bình đẳng được tôn trọng, nhà nước cũng là một pháp nhân như doanh nghiệp và do đó cần phải có những định chế đặc biệt đối với giám đốc doanh nghiệp trong trường hợp ông ta không thực hiện được bản hợp đồng của mình.

Nguồn:giangnamlangtu.wordpress.com



TAM QUYỀN PHÂN LẬP


Charles Montesquieu (1689-1755).

Đôi lời

Nhân dịp Quốc hội khóa XIII đang bàn việc cải cách Hiến pháp, Giang Nam lãng tử xin giới thiệu một tài liệu gốc vắn tắt của chế độ Pháp quyền. Điều hay nhất mà tôi tâm đắc từ công trình vĩ đại của giới trí thức Pháp, Anh và Mỹ là CHỐNG TẬP TRUNG QUYỀN LỰC. Quyền lực cần phải được phân các nhánh độc lập (chiều ngang) và xác định quyền lực độc lập từ trên xuống dưới (chiều dọc). Mọi quyền lực đều bị ràng buộc với nhau và chỉ tuân theo pháp quyền !

Thuyết “Tam quyền phân lập” được hình thành từ thời cổ đại Hi Lạp, đến thế kỷ 18 Pháp, được hoàn thành trong luận văn “Tinh thần pháp luật” (L’Esprit de loix) của Charles Montesquieu

Chân lý thực là giản dị, hệ thống quyền lực như một tấm vải cần có sợi ngang sợi dọc thì mới bền chắc. Không có một sợi vải đặc biệt nào có khả năng làm chủ được tấm vải ấy. Chỉ có Nhân dân mới giữ quyền lực cao nhất, phán xét và định đoạt cả ba quyền.

Kính gửi quý vị đại biểu quốc hội khóa XIII và bạn đọc quan tâm.



" Tam quyền phân lập " là nội dung của luận văn " Tinh thần pháp luật "


THUYẾT TAM QUYỀN PHÂN LẬP

(từ cổ đại đến hiện đại)

1. Quá trình hình thành

2. Nhận xét

3. Nội dung cơ bản

Tam quyền phân lập (nghiã là phân chia quyền lực ra ba nhánh độc lập) là một khái niệm đã được biết đến từ lâu nhờ sự xuất hiện của các bản Hiến pháp Tư sản, trong đó nổi bật là Hiến pháp Hoa Kỳ. Các quy định trong những bản hiến pháp tạo cơ sở thừa nhận sự tồn tại độc lập, kiềm chế lẫn nhau giữa 3 cơ quan: lập pháp, hành pháp, tư pháp và được tổ chức song song với nhau, và qua đó kiểm tra, giám sát hoạt động lẫn nhau. Theo thể chế này, không một cơ quan nào có quyền lực tuyệt đối trong sinh hoạt chính trị của quốc gia.

Khái niệm này lần đầu được đưa ra bởi nhà nghiên cứu chính trị người Pháp tên Charles de Seconda, tức là Nam tước de Montesquieu. Khái niệm tam quyền phân lập sau này được mở rộng cho cơ chế điều hành đất nước với nhiều hơn hay ít hơn ba nhánh cầm quyền.

1. Quá trình hình thành

Thuyết tam quyền phân lập xuất hiện lần đầu tiên bởi nhà bác học vĩ đại của Hy Lạp Aristote. Theo Aristote, nhà nước quản lý xã hội bằng 3 phương pháp: luật pháp, hành pháp và phân xử.

Aristote cho rằng, không có loại hình chính phủ nào là duy nhất có thể phù hợp với tất cả các thời đại và các quốc gia. Ông phân chính phủ theo tiêu chuẩn số lượng (số người cầm quyền) và chất lượng (mục đích của sự cầm quyền) . Kết hợp 2 mặt đó, các chính phủ có thể xếp theo 2 loại: chân chính (quân chủ, quý tộc, cộng hoà) và biến chất (độc tài, quán đầu, dân trị)

Bên cạnh Aristote, bàn về thuyết ”tam quyền phân lập” còn có John Locke (1632–1704) là nhà triết học, nhà hoạt động chính trị người Anh. Theo ông, quyền lực của nhà nước là quyền lực của nhân dân. Nhân dân nhường một phần quyền của mình cho nhà nước qua khế ước. Để chống độc tài phải thực hiện sự phân quyền. Kế thừa tư tưởng phân quyền của Aristote, Locke cho rằng, quyền lực phải phân chia theo 3 lĩnh vực: lập pháp, hành pháp và liên hợp.

Đến thế kỷ 18, nhà tư tưởng vĩ đại người Pháp Montesquieu, đã phát triển thuyết tam quyền phân lập trở thành một học thuyết độc lập. Tiếp thu và phát triển tư tưởng về thể chế chính trị tự do, chống chuyên chế, Mongtesquieu xây dựng học thuyết phân quyền với mục đích tạo dựng những thể chế chính trị, đảm bảo tự do cho các công dân.

Theo ông, tự do chính trị của công dân là quyền mà người ta có thể làm mọi cái mà pháp luật cho phép. Pháp luật là thước đo của tự do. Cũng như Aristote và J.Locke, Montesquieu cho rằng, thể chế chính trị tự do là thể chế mà trong đó, quyền lực tối cao được phân thành 3 quyền: lập pháp, hành pháp và tư pháp.

* Lập pháp: biểu hiện ý chí chung của quốc gia . Nó thuộc về toàn thể nhân dân, được trao cho Hội nghị đại biểu nhân dân: Quốc hội

* Hành pháp: thực hiện luật pháp đã được thiết lập.

* Tư pháp: trừng trị tội phạm và giải quyết sự xung đột giữa các cá nhân. Các thẩm phán được lựa chọn từ dân và xử án chỉ tuân theo pháp luật.

Tư tưởng phân quyền của Mongtesquieu là đối thủ đáng sợ của chủ nghĩa chuyên chế phong kiến và có thể khẳng định ông là người đã phát triển và hoàn thiện thuyết: “tam quyền phân lập”. Học thuyết về sự phân chia quyền lực gắn liền với lí luận về pháp luật tự nhiên đã đóng vai trò quyết định trong lịch sử đấu tranh của giai cấp tư sản chống lại sự độc đoán, chuyên quyền của nhà vua

Cùng với sự hình thành chế độ tư bản, nguyên tắc “phân chia quyền lực” đã trở thành một trong những nguyên tắc chính của chủ nghĩa lập hiến tư sản, lần đầu tiên được thể hiện trong các đạo luật mang tính hiến định của cuộc Cách mạng Pháp và sau đó thể hiện đầy đủ trong Hiến pháp Hoa Kỳ 1787. Học thuyết pháp luật- chính trị (thuyết “phân quyền”) với quyền lực nhà nước được hiểu không phải là một thể thống nhất, mà là sự phân chia thành 3 quyền: quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, các quyền này được thực hiện độc lập với nhau, kiểm soát lẫn nhau, kiềm chế lẫn nhau. Trên thực tế, việc phân chia quyền lực trong bộ máy nhà nước được áp dụng khác nhau trong hệ thống các nước cộng hoà tổng thống, theo nguyên tắc “kiềm chế và đối trọng”, tức là các quyền kiểm tra và giám sát lẫn nhau, tạo ra sự cân bằng giữa các quyền.

2. Nhận xét

Trước khi có chế độ dân chủ tư sản, mọi quyền lực nhà nước đều tập trung vào trong tay một cá nhân. Chính đây là căn nguyên cho mọi hành vi độc tài, chuyên chế của các công việc nhà nước. Vì vậy, muốn chống chế độ này, một lý thuyết của nhiều học giả tư sản đã được nêu ra, đó là thuyết phân chia quyền lực.

Cội nguồn của tư tưởng phân quyền đã có từ thời cổ đại ở Phương Tây mà điển hình là nhà nước Athens và cộng hòa La Mã. Tư tưởng phân quyền trong xã hội Hy Lạp cổ đại đã có mầm mống từ Aristote. Ông đã quan niệm rằng trong bất kỳ nhà nước nào cũng cần phải có những yếu tố bắt buộc: cơ quan làm ra luật có trách nhiệm trông coi việc nước, các cơ quan thực thi pháp luật và các tòa án, từ đó ông chia hoạt động nhà nước thành ba thành tố: nghị luận, chấp hành và xét xử. Tuy nhiên, tư tưởng của Aristote mới chỉ dừng ở việc phân biệt các lĩnh vực hoạt động của nhà nước, chứ chưa chỉ rõ phương thức vận hành cũng như mối quan hệ bên trong giữa các thành tố đó.

Những tư tưởng phân quyền sơ khai trong thời cổ đại được phát triển thành học thuyết ở Tây Âu vào thế kỷ 17 – 18, gắn liền với hai nhà tư tưởng lớn là John Locke và C.L. Montesquieu.

John Locke (1632 – 1704), một nhà triết học người Anh, ông là người đầu tiên khởi thảo ra thành hệ thống lý luận hoàn chỉnh về học thuyết phân quyền, và được thể hiện trong tác phẩm “Khảo luận thứ hai về Chính quyền”. Về quyền lực nhà nước, ông cho rằng “chỉ có thể có một quyền lực tối cao, là cơ quan lập pháp, mà tất cả các quyền lực còn lại là, và phải là, những cái phụ thuộc vào nó”. Theo đó, có thể thấy Locke đồng nhất quyền lực nhà nước với quyền lập pháp.

Ông chia quyền lực nhà nước thành các phần: lập pháp, hành pháp và liên minh. Theo đó, quyền lập pháp là quyền lực cao nhất trong nhà nước, và phải thuộc về nghị viện; nghị viện phải họp định kỳ thông qua các đạo luật, nhưng không thể can thiệp vào việc thực hiện chúng. Quyền hành pháp phải thuộc về nhà vua. Nhà vua lãnh đạo việc thi hành pháp luật, bổ nhiệm các chức vị, chánh án và các quan chức khác. Hoạt động của nhà vua phụ thuộc vào pháp luật và vua không có đặc quyền nhất định nào với nghị viện nhằm không cho phép vua thâu tóm toàn bộ quyền lực về tay mình và xâm phạm vào các quyền tự nhiên của công dân. Nhà vua thực hiện quyền liên minh, tức là giải quyết các vấn đề chiến tranh, hòa bình và đối ngoại.

Những luận điểm phân quyền của J.Locke đã được nhà khai sáng người Pháp, C.L. Montesquieu (1689 – 1775) phát triển. Montesquieu đã phát triển một cách toàn diện học thuyết phân quyền, và sau này khi nhắc tới thuyết phân quyền người ta nghĩ ngay đến tên tuổi của ông.

Montesquieu kịch liệt lên án chế độ quân chủ chuyên chế ở Pháp lúc bấy giờ. Chế độ quân chủ chuyên chế là một tổ chức quyền lực tồi tệ, phi lý, vì: nhà nước tồn tại vốn biểu hiện của ý chí chung, nhưng trong chế độ chuyên chế nó lại biểu hiện ý chí đặc thù; chế độ chuyên chế với bản chất vô pháp luật và nhu cầu pháp luật. Montesquieu nhận thấy pháp luật gồm nhiều lĩnh vực, phân ngành rõ rệt, cho nên tập trung vào một người duy nhất là trái với bản chất của nó; gắn với bản chất chế độ chuyên chế là tình trạng lạm quyền. Vì vậy việc thanh toán hiện tượng lạm quyền chỉ có thể là đồng thời, là sự thanh toán chế độ chuyên chế. Theo Montesquieu, một khi quyền lực tập trung vào một mối, kể cả một người hay một tổ chức, thì nguy cơ chuyên chế vẫn còn.

Trong tác phẩm “Tinh thần pháp luật” (The Spirit of Law), Montesquieu đã lập luận tinh tế và chặt chẽ tính tất yếu của việc tách bạch các nhánh quyền lực và khẳng định: “Trong bất cứ quốc gia nào đều có ba thứ quyền: quyền lập pháp, quyền thi hành những điều hợp với quốc tế công pháp và quyền thi hành những điều trong luật dân sự.” Ta có thể nhận ra sự tiến bộ trong tư tưởng phân quyền của Montesquieu so với tư tưởng của Locke, khi tách quyền lực xét xử – quyền tư pháp ra độc lập với các thứ quyền khác.

Từ đó, Montesquieu chủ trương phân quyền để chống lại chế độ chuyên chế, thanh toán nạn lạm quyền, để chính quyền không thể gây hại cho người bị trị và đảm bảo quyền tự do cho nhân dân. Montesquieu đã viết: “Khi mà quyền lập pháp và hành pháp nhập lại trong tay một người hay một Viện Nguyên Lão, thì sẽ không có gì là tự do nữa, vì người ta sợ rằng chính ông ta hoặc viện ấy chỉ đặt ra những luật độc tài để thi hành một cách độc tài. Cũng không có gì là tự do nếu như quyền tư pháp không tách rời quyền lập pháp và hành pháp. Nếu quyền tư pháp được nhập với quyền lập pháp, thì người ta sẽ độc đoán với quyền sống, quyền tự do của công dân; quan tòa sẽ là người đặt ra luật. Nếu quyền tư pháp nhập lại với quyền hành pháp thì quan tòa sẽ có cả sức mạnh của kẻ đàn áp. Nếu một người hay một tổ chức của quan chức, hoặc của quý tộc, hoặc của dân chúng, nắm luôn cả ba thứ quyền lực nói trên thì tất cả sẽ mất hết.”

Tóm lại, theo Montesquieu, cách thức tổ chức nhà nước của một quốc gia là: “Cơ quan lập pháp trong chính thể ấy gồm có hai phần, phần này ràng buộc phần kia do năng quyền ngăn cản hỗ tương. Cả hai phần sẽ bị quyền hành pháp ràng buộc và quyền hành pháp sẽ bị quyền lập pháp ràng buộc.”

Tư tưởng của Montesquieu tuy vẫn còn điểm hạn chế là bảo thủ phong kiến, đòi hỏi đặc quyền cho tầng lớp quý tộc. Nhưng nó vẫn là nền móng cho tư tưởng phân chia quyền lực sau này, có ảnh hưởng sâu sắc đến những quan niệm sau này về tổ chức nhà nước cũng như thực tiễn tổ chức của các nhà nước tư bản. Ví dụ như đa số Hiến pháp của các nhà nước tư bản hiện nay đều khẳng định nguyên tắc phân quyền như một nguyên tắc cơ bản của việc tổ chức quyền lực nhà nước. Như điều 10 Hiến pháp liên bang Nga quy định: “Quyền lực nhà nước ở Liên bang Nga được thực hiện dựa trên cơ sở của sự phân quyền thành các nhánh lập pháp, hành pháp và tư pháp. Các cơ quan của các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp phải độc lập.” Điều 1 của Hiến pháp Ba Lan cũng trực tiếp khẳng định việc tổ chức bộ máy nhà nước theo nguyên tắc phân chia quyền lực thành ba quyền: lập pháp, hành pháp, tư pháp.

Tiếp nối Montesquieu, J.J. Rousseau cùng với tác phẩm “Khế ước xã hội,” đã đưa ra những quan điểm rất mới mẻ và tiến bộ về sự phân chia quyền lực trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước.

JJ. Rousseau (1712 – 1778) chủ trương nêu cao tinh thần tập quyền, tất cả quyền lực nhà nước nằm trong tay cơ quan quyền lực tối cao tức toàn thể công dân trong xã hội. Nhưng ông lại chỉ ra rằng phân chia quyền lực nhà nước thành quyền lập pháp và quyền hành pháp, giao chúng vào tay cơ quan quyền lực tối cao và chính phủ là cách thức hợp lý duy nhất để đảm bảo sự hoạt động có hiệu quả cho nhà nước, cũng như ngăn chặn được xu hướng lạm quyền. Ngoài ra ông còn nêu lên vai trò quan trọng của cơ quan tư pháp trong việc đảm bảo cho sự hoạt động ổn định của nhà nước, cũng như cho sự cân bằng giữa các vế cơ quan quyền lực tối cao, chính phủ và nhân dân. Nhưng cách phân quyền của Rousseau không giống với Locke và Montesquieu, bởi ông luôn khẳng định một điều duy nhất rằng: “những bộ phận quyền hành được chia tách ra đều phụ thuộc vào quyền lực tối cao” và “mỗi bộ phận chỉ thực hiện ý chí tối cao đó” mà thôi.

3. Nội dung cơ bản

Nội dung cốt lõi của học thuyết này cho rằng, quyền lực nhà nước luôn có xu hướng tự mở rộng, tự tăng cường vai trò của mình. Bất cứ ở đâu có quyền lực là xuất hiện xu thế lạm quyền và chuyên quyền, cho dù quyền lực ấy thuộc về ai. Do vậy, để đảm bảo các quyền tự do cơ bản của công dân, ngăn ngừa các hành vi lạm quyền của các chủ thể nắm giữ quyền lực nhà nước thì phải thiết lập pháp chế nhằm giới hạn quyền lực nhà nước. Cách tốt nhất để chống lạm quyền là giới hạn quyền lực bằng các công cụ pháp lý và cách thực hiện không phải là tập trung quyền lực, mà là phân chia nó ra.

Muốn hạn chế quyền lực nhà nước thì trước hết phải phân quyền, và sau đó phải làm cho các nhánh quyền lực đã được phân chỉ được phép hoạt động trong phạm vi quy định của pháp luật. Sau này, trong một bức thư gửi cho một người cùng thời, ông Samuel Kercheval, Thomas Jefferson, tổng thống thứ 3 của Hoa Kỳ, đã chỉ rõ thêm của sự phân quyền không đơn thuần chỉ diễn ra ở một chiều ngang, mà còn cần thiết ở cả chiều dọc, và ở bất cứ lĩnh vực nào của nhà nước.

Sự “phân quyền” mà Jefferson đã mô tả như sau:

1* Phân bổ quyền lực chính quyền giữa các nhánh riêng rẽ của chính quyền.

2* Sự phân chia các quyền lực đó theo một cách thức sao cho chức năng của một nhánh chính quyền trong một vấn đề cụ thể thì bị giới hạn bởi chức năng của một nhánh khác có thẩm quyền về cùng vấn đề ấy hoặc về một vấn đề khác có liên quan. Thường được gọi là: “các biện pháp kiểm soát và đối trọng quyền lực lẫn nhau” (“checks and balance”). Về cốt lõi, đây là một hệ thống nằm ngay bên trong chính quyền nhằm đảm bảo tính trách nhiệm của chính quyền, được gọi là kiểm tra, giám sát bên trong. Vì sự kiểm tra này tạo ra một cơ chế mặc nhiên ai nắm và được phân công sử dụng quyền lực nhà nước cũng phải bị kiểm tra, theo nguyên tắc phòng ngừa, còn cơ chế kiểm tra được tiến hành từ bên ngoài hầu như chỉ được tiến hành một khi đã có hậu quả xảy ra.

3* Khía cạnh thứ ba của sự phân bổ này là sự phân chia quyền lực của chính quyền theo ngành dọc theo cách thức sao cho mỗi một nhiệm vụ của chính quyền được giao cho đơn vị nào nhỏ nhất, cơ sở nhất trong chính quyền mà có thể đảm trách được nhiệm vụ đó.

(rút trích Luận văn 316 trang)

Biên tập rút gọn: PHN
Nguồn:giangnamlangtu.wordpress.com

Chủ Nhật, 7 tháng 8, 2011

VÌ MỘT XÃ HỘI VĂN MINH.

Sự xấu hổ

Ba tuần lễ trôi qua kể từ cái ngày 17/7 nặng nề ấy.Bao nhiêu ngôn từ đã bình phẩm về cái bàn chân bỗng dưng đặt ngay mặt người dân yêu nước.Ý kiến của các nhân sĩ,trí thức,các trang mạng “lề trái”,các đài nước ngoài phê phán.Và một vị trong tứ trụ yêu cầu xem clip.Rồi phát biểu trong cuộc họp báo của Trung tướng Nguyễn Đức Nhanh.Kết quả là hai cuộc biểu tình phản đối sự ngang ngược của nhà cầm quyền Trung quốc ngày 24/7 và 7/8 hôm nay đã diễn ra với những ứng xử văn minh từ phía người biểu tình và lực lượng cảnh sát,an ninh.

Một cuộc biểu tình đẹp đến từng xen-ti-mét cho cả hai bên

Còn quá sớm để có thể nói đến một sự thay đổi tận gốc rễ tác phong, hành vi, ứng xử đối với dân của đội ngũ thực thi và bảo vệ pháp luật mà vốn dĩ phải có trong một xã hội văn minh.Nhưng dù sao những tín hiệu này cũng cho thấy có một sự thay đổi về nhận thức.
Thứ nhất là nhận thức được bản chất của 09 cuộc biểu tình vừa qua.Thực sự đó chỉ là hành vi biểu thị lòng yêu nước.Đơn thuần là lòng yêu nước, đồng cảm trước những đau thương, mất mát của đồng bào ngư dân, và phản ứng lại những đòi hỏi quá đáng của Trung quốc về chủ quyền biển đảo của Việt nam, cái chủ quyền mà bao thế hệ cha ông ta,và mới đây là gần 150 người con Việt đã dũng cảm ngã xuống trong cuộc chiến không cân sức để giành lại.Không có thế lực phản động nào giật dây, kích động, vì lòng yêu nước không cần đến sự kích động.

Đẹp biết bao.

Thứ hai là nhận thức được cái thái độ cần phải có của một nhân viên công lực trong một xã hội hiện đại (chưa dám nói là văn minh).Hành vi đạp vào mặt người trong tự thế bị túm chân túm cẳng như vậy chỉ có thể có trong thời nô lệ hay phong kiến, khi mà phẩm giá con người không hơn một phút buồn vui ngẫu hứng của các đấng ông chủ.Bác Hồ dạy “…đối với kẻ địch phải cương quyết,khôn khéo” .Với kẻ địch mà còn phải khôn khéo khi cương quyết trấn áp, huống hồ gì đối xử với người dân, mà lại một người dân hiền lành chỉ muốn biểu thị lòng yêu nước.Bao nhiêu cặp mắt từ năm châu bốn biển nhìn vào hình ảnh ấy, họ sẽ nghĩ gì về xã hội Việt nam, đất nước con người Việt nam?
Thứ ba là nhận thức về việc biểu thị lòng yêu nước của người dân. Chắc chắn rằng vị thế của Việt nam trên trường quốc tế sẽ không giảm đi vì những cuộc biểu tình tuần hành diễn ra trong sự ôn hòa,văn minh lịch sự từ phía người biểu tình cũng như lực lượng cảnh sát như thế, nếu không nói là được nâng cao hơn.Bạn bè vị nể ta, kẻ thù cũng phải e dè ta, vì đằng sau chính phủ ấy, đội quân ấy là cả một khối đoàn kết của cả một dân tộc đang sục sôi vì sự toàn vẹn của Tổ quốc.

Duyên dáng Việt Nam

Mặt khác, về phía người biểu tình, cũng nên tiếp tục phát huy cái tinh thần ấy, cách ứng xử ấy, không để một số xung động tình cảm quá khích chen vào làm mất đi sự ôn hòa.Mục đích chính kiến rõ ràng, tuần hành trong trật tự, không cản trở giao thông không cần thiết, tất yếu sẽ lấy được thiện cảm của lực lượng cảnh sát, mà đa phần họ ( lòng yêu nước chưa hẳn đã kém) cũng chỉ vì công vụ mà phải làm.Có vậy thì những cuộc biểu tình tuần hành mới thực sự thành công hoàn hảo theo nghĩa win – win.
Đó cũng là một phương thức để xã hội dần đi đến sự văn minh, hiện đại.

BÀI PHÁT BIỂU CỦA ĐBQH DƯƠNG TRUNG QUỐC



Kính thưa QH,

Với kỳ hợp thứ Nhất của Quốc hội khoá XIII này, chúng ta được chứng kiến một hiện tượng hy hữu trong lịch sử QH. Một vị Phó Thủ tướng thường trực trình bày bản Báo cáo của Chính phủ ở đầu kỳ họp lại trở thành Chủ tịch QH chủ trì giám sát ngay chính bản báo cáo của mình. Lần đầu tiên có một nhà hành pháp lại trở thành nhà lập pháp và hơn thế nữa chúng ta cũng chứng kiến nhiều thành viên của Chính phủ lại “hoá thân” vào QH .

Tôi muốn nhìn nhận khía cạnh tích cực của hiện tượng này. Là người tham gia hoạt động rất lâu năm trong Chính phủ, ở vào những vị trí then chốt nhất của CP, hiểu rõ “chân tơ kẽ tóc” của CP, Chủ tịch QH biết được tất cả những chỗ mạnh, chỗ yếu của CP, từng chiụ trách nhiệm về hoạt động của CP sẽ thực thi trách nhiệm cùng QH giám sát CP sẽ chặt chẽ hơn. Giám sát hiểu theo nghĩa là sẽ phát hiện được những yếu kém để điều chỉnh những hoạt động hành pháp của CP, cũng như với vai trò lập pháp sẽ tạo những hành lang pháp lý chuẩn xác góp phần cho CP thực thi hiệu quả trách nhiệm hành pháp của mình… Đó là hy vọng của tôi và nhiều cử tri.
Tôi cũng mong muốn báo cáo của CP bên cạnh những đánh giá chủ yếu về kinh tế, một lĩnh vực quan trọng nhưng cũng nên quan tâm nhiều hơn đến một lĩnh vực cũng không kém phần quan trọng là những đánh giá về các vấn đề xã hội. Các vấn đề xã hội không chỉ là các chính sách an sinh, con số thống kê thu nhập, giàu nghèo, tệ nạn, tai nạn v.v… mà còn về lòng tin của dân.

Nếu đánh giá về kinh tế có thể biểu thị được bằng con số định lượng (như GDP, chỉ tiêu, sản lương…) thì cũng nên đánh giá chỉ tiêu về lòng tin của dân đối với CP. Những phương pháp điều tra, thống kế hiện đại có thể làm được điều này. Thế giới họ làm nhiều rồi. Một nhà nước của dân,vì dân càng phải quan tâm đến lòng tin của dân. Tôi thấy có đại biểu lấy hiện tượng ở Bắc Phi để đánh giá, theo tôi không thể so sánh vì chúng ta đã có một truyền thống xây dựng được sự đồng thuận trên dưới, giữa nhân dân và chính phủ và phải biết gìn giữ nó như gìn giữ con mắt của mình. Tôi xin đưa ra một thí dụ để làm rõ quan điểm của tôi cũng là đề cập tới một vấn đề hệ trọng chưa được CP quan tâm đúng mức xét theo khía cạnh quan tâm đến lòng tin của dân.

Đó là vấn đề Biển Đông. Không thể không thừa nhận rằng vấn đề Biển Đông trong đó có cả vấn đề bảo vệ chủ quyền cũng như vấn đề phát triển quốc gia là một vấn đề đang nổi bật. Sự tranh chấp, sự đe doạ, sự không ổn định là vấn đề không chỉ các nước có liên quan mà cả thế giới quan tâm. Vậy mà báo cáo của CP tuy có đề cập thể hiện quan điểm mang tính nguyên tắc của CP, nhưng rõ ràng là chưa thể hiện đúng tầm mức. Chúng ta không thổi phồng, không kích động, không để hoang mang là cần thiết, nhưng không thể coi đó là chuyện bình thường được. Nó phải được thể hiện trong báo cáo của CP đúng tầm mức, phải được phản ảnh trong chương trình nghị sự của QH đúng tầm mức để nhân dân tin tưởng, thông suốt…

Ngay chương trình làm việc của QH ban đầu hầu như chẳng có vấn đề gì xảy ra ở Biển Đông cả, phải đến lúc dư luận và đai biểu QH yêu cầu thì QH mới đưa vào chương trình một buổi báo cáo không đầy 1 tiếng và không có thảo luận. Tôi xin bày tỏ điều tôi suy nghĩ về nội dung buổi báo cáo đó, và tôi đã nói với bộ trưởng ngoại giao ý kiến của tôi rằng : Trừ một vài nội dung chi tiết , còn về căn bản nếu những nội dung báo cáo đó được trình bày cho dân chúng thì chỉ có tốt trở lên, dân sẽ tin hơn vào những gì CP đã làm, nó làm sáng tỏ phần nào những băn khoăn , trăn trở của dân và quan trọng hơn là sự ủng hộ của dân được tổ chức, được huy động có hiệu quả.

Cái gì cần tế nhị trong quan hệ ngoại giao ta phải giữ, nhưng với dân thì không cần đến sự tế nhị mà cần sự tin cậy, thẳng thắn. Cái gì cần mềm mỏng với ngoại giao thì cũng cần mềm mỏng trong “nội giao”, đừng tạo ra những khoảng cách, những xung đột không đáng có giữa CP và nhân dân, cho dù sự cảnh giác là cần thiết.

Tôi cũng muốn nêu thêm về một ví dụ mà ngay trong buổi báo cáo ngày hôm qua cũng không đề cập tới. Đó là văn bản của Thủ tướng Việt Nam cách đây nửa thế kỷ. Vấn đề đó, chúng ta hoàn toàn có đủ lập luận để phản bác những ý đồ xuyên tạc. Dường như chúng ta chỉ quan tâm đến bàn hội nghị mà không quan tâm giải thích cho dân biết. Tài liệu ấy họ đã phát tán thành giấy gói hàng, đưa lên mạng vậy mà không có cơ quan nào chính thưc lên tiếng phản bác, giải thích cho dân (mới đây mới được tờ báo của Mặt trận Tổ quốc đề cập tới).

Là người làm nghề sử, tôi muốn nhắc lại một sự kiện cách đây đã 65 năm. Đầu năm 1946, khi cần phải đối phó với một tình huống “ngàn cân treo trên sợi tóc” liên quan đến vận mệnh của Tổ Quốc, Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã đi một nước cờ táo bạo một cách sáng suốt là ký Hiệp định Sơ Bộ 6-3.

Thấy nước cờ ấy dân chưa hiểu, thắc mắc, hoang mang… Chính quyền cách mạng tổ chức cả một cuộc biểu tình có hàng vạn người tham gia trên Quảng trường Nhà Hát Lớn (hình ảnh vẫn còn để ta thấy dân quan tâm đến việc nước như thế nào, có cả dân quê, có cả anh phu xe, công chức hay thợ thuyền, trí thức…).

Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp giải thích cả mấy tiếng đồng hồ, rồi vị Chủ tich nước đứng trước quốc dân nói lên rằng : “Đồng bào hãy tin tưởng ở Nhà nước, Hồ Chí Minh không khi nào bán nước”.

Học tập Bác Hồ nên nhớ cách ứng xử với dân của Bác khi vận nước khó khăn. Cho dù thời đại có nhiều thay đổi, mọi so sánh có thể là khập khiễng thì cái nguyên lý “dân biết” thì “dân mới làm” và dân có điều kiện “kiểm tra” CP là chuyện của muôn đời.

Tại sao phải là đại biểu QH với một phiên hop kín mới được nghe những thông tin mà theo tôi nếu để dân biết thì tốt biết bao. Tôi tin chắc là dân sẽ tin, còn người ngoài có tin hay không thì là việc là thứ yếu.

Thưa QH,

Hướng ra Biển Đông nhưng cũng phải luôn quan tâm đến đất liền, trong đó có nền kinh tế của chúng ta. Chúng ta muốn giữ được chủ quyền chính trị thì cũng phải giữ được chủ quyền kinh tế. Tại kỳ họp cuối cùng của khoá trước, tôi đã đặt câu hỏi chất vấn CP rằng nền kinh tế của ta bên cạnh việc khai thác có hiệu quả những nguồn lực nước ngòai thông qua việc phát triển những mối quan hệ hơp tác, nhưng có lành mạnh không, có bị lệ thuộc không ?

Biết bao nhiêu vấn đề đã được nêu lên ngay trong QH với những định lượng rất đáng lo lắng về những khả năng bị lệ thuộc đặc biệt là với Trung Quốc cần phải được quan tâm để điều chỉnh, vì chưa thấy những dấu hiệu tích cực. Nếu vấn đề có vẻ tế nhị này nhưng phải trên nguyên tắc “tiên trách kỷ hậu trách nhân” còn thiên hạ thì bao giờ cũng quan tâm đến lợi ích, (lợi ích kinh tế, kể cả lợi ích chính trị) bằng mọi giá. Tại sao nông dân trồng vải đến vụ thu hoạch mà các cơ quan quản lý, doanh nghiệp nhà nước vẫn đóng cửa im ỉm (như một phóng sự truyền hình phản ảnh), trong khi thương lái nước ngoài tung hoành và thực sự lại trở thành cứu cánh cho dân.

Đấy mới là quả vải nhỏ bé còn chỉ cần nhìn vào nhiều công trình thắng thầu, dòng chẩy của hàng hoá mà tình trạng nhập siêu là tiêu biểu nhất ,đủ thấy nhiều thông điệp đáng lo ngại khác. Nhìn ngoài thị trường tất cả các mặt hàng tiêu dùng thiết yếu kể cả những mặt hàng nông sản, thực phẩm mà tại Việt Nam thừa khả năng sản xuất cũng nhan nhản ngoài thị trường là hàng Trung Quốc.

Cuối cùng, tôi đề cập tới một nội dung mà đại diện Đoàn Đồng Nai và Đại biểu Lâm Đồng đã đề cập nhưng chưa đủ thời gian, hơn nữa đó lại là chương trình vận động bầu cử của tôi với bà con cử tri sống ven con đường Quốc lộ 20 trước nguy cơ nhãn tiền là việc vận chuyển bô xít liên quan đến một dự án mà QH đã thông qua mà CP cũng cam kết chỉ khai thác bô xit nếu có hiệu quả kinh tế và bảo đảm an toàn môi trường. QH có trách nhiệm giám sát trong quá trình triển khai thực hiện. Đó là mới quan tâm đến việc khai tuyển mà chưa quan tâm đến tác động của việc vận chuyển.

Về việc này, vị đại diện TKV vừa phát biểu. Tôi lấy làm lạ là học sinh đã kém sử mà chúng ta lại kém toán hay sao mà không nhận ra lộ trình đến 15 tháng 8 này phương án mới chuyển Phó Thủ tướng Chính phủ xem xét mà cuối năm xe chở bô xít đã phải lăn bánh rồi. Các chiến sĩ Công an Đồng Nai (?) chúng tôi chỉ đặt một câu hỏi : Liệu xe trọng tải 40 tấn có được cho phép đi trên cầu 25 tấn không? Đây không phải là bài toán kinh tế mà là bài toán kỷ cương, bài toán pháp luật . Là cơ quan lâp pháp và giám sát thực thi pháp luật, để xẩy ra tình trang nan giải này, có trách nhiệm của cả QH.

Hy vọng với môt QH khoá mới, có CTQH mới QH sẽ khắc phục một cách căn bản những tình huống tương tự làm giảm lòng tin của người dân vào QH và CP.

Nguồn: Tầm nhìn.net

Thứ Bảy, 6 tháng 8, 2011

LẤY LẠI NHỮNG GÌ ĐÃ MẤT.


Bản đồ Trung quốc,có cái lưỡi bò nha
Kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa này, đại biểu Nguyễn Bá Thuyền (Lâm Đồng) đề ra mục tiêu “…cố gắng lấy lại Hoàng sa trong nhiệm kỳ này”.Hùng khí thay, mạnh mẽ thay…Sướng tai thay.
Nếu đại biểu này vận động (giả sử vậy) được 2/3 số đại biểu đồng ý đưa vấn đề này thành Nghị quyết (thiệt ra chỉ có 2/500 đại biểu Quốc hội đề cập đến vấn đề biển Đông,ông Thuyền và ông Nguyễn Tấn Tuân của Khánh Hòa), Quốc hội sẽ bàn bạc,nâng lên đặt xuống, rồi sẽ ra nghị quyết…Có nghị quyết thì Chính phủ phải thi hành…
Miềng hình dung những giải pháp sau đây sẽ được đưa ra:
1.Kiện.Tất nhiên, phải lôi cổ tên ăn cướp ra Tòa.Nhưng Trung quốc nói rằng nị có ra thì ra,ngộ không ra, làm chi ngộ.Khóc.
2.Đem hạm đội tàu ngầm (sắp có) đi đánh chìm mấy cái tàu Hải quân,Ngư giám của Trung quốc,rồi đổ bộ lên nhổ phăng mấy cây cờ một sao lớn bốn sao nhỏ.Cách này dễ à nha.
3.Huy động lực lượng ngư dân cứ tập trung ra Hoàng sa đánh cá.Tụi Hải giám, hải quân lo đổ xô đi bắt.Ta dùng đặc công lén nhảy lên đảo,chiếm luôn.He he.Hơi bị tốn tàu cá.
4.Rủ Mỹ đem hạm đội VII vô đánh mướn.Có gì mình chịu tiền xăng, tiền đạn.Nhưng Mỹ sợ Trung quốc đòi nợ.
5.Cử Thân Bao Sơn qua Bắc Kinh lấy tình đồng chí nghĩa môi răng ra thuyết cho mấy ảnh mủi lòng trả lại.Nhưng mấy ảnh đương bận mủi lòng ở Tân Cương,Tây Tạng…chưa có thời gian mủi lòng với người anh em.Về đi.
Hết rồi.Chắc hết cách rồi.Bỗng dưng muốn khóc.Nói ra thì đau lòng, chớ thiệt cái gì đã vào trong tay Trung Quốc,hiển nhiên là của Trung quốc rồi.Đúng vậy chớ răng.Ông Tư Hãn (tên gọi nôm na của ông Thành Cát) hồi xưa uýnh ngộ te khói nhưng mà giờ đất ổng, kể cả chiến công, vinh quang của ổng,cũng là của ngộ rồi. Mấy anh Ngoại Mông đâu dám thè lưỡi ngựa như cái lưỡi bò của ngộ đâu.
Chừ ri hỉ. Cứ giữ cho được cái gì còn lại là tốt lắm rồi. Đòi thì cứ đòi, la thì cứ la.May chi mấy kẻ trộm gà ngồi húp cháo gà cũng cứ phải nhớ đây là cháo gà ăn trộm, chớ không phải gà mình nuôi là được. Chớ vui quá ra cái nghị quyết thu hồi Hoàng sa trong nhiệm kỳ có mà toi.
Mong rằng sắp tới miềng độc lập hơn, tự do hơn, hạnh phúc hơn.Dân giàu hơn, nước mạnh hơn. May mắn chi tsunami nó quét qua Hoàng sa cái tụi nó biến sạch lúc ấy mình lại ra nhặt lại. Hehe.

Thứ Sáu, 5 tháng 8, 2011

VÀI SUY NGHĨ RỜI RẠC VỀ DÂN CHỦ.


Biểu tình ở Thái Lan (3-4/4/2010)
Tôi cảm thấy rất thú vị trước ý này và bài này của nhà báo Hannah Beech khi cô bàn về dân chủ ở châu Á, giữa lúc các phong trào áo vàng - áo đỏ đang xuống đường rầm rộ ở Thái Lan cách đây chưa lâu.

"They called themselves the people's Alliance for Democracy (PAD), but their aims were hardly democratic. During their 192-day protest campaign, the PAD paralyzed Thailand, blockading the capital's two airports for eight days and besieging the Prime Minister's office complex for months."

"Họ tự gọi mình là Liên minh Nhân dân vì Dân chủ (PAD), nhưng mục đích của họ khó có thể coi là dân chủ được. Suốt 192 ngày của cuộc phản đối, PAD đã làm tê liệt Thái Lan, phong tỏa hai sân bay của thủ đô trong tám ngày và vây hãm văn phòng Thủ tướng hàng tháng trời".

Beech dẫn chuyện ở Thái như là một ví dụ sinh động cho điều mà bà cần nói: dân chủ - theo khái niệm của phương Tây - đang vật lộn trong cuộc sinh tồn trên xứ sở châu Á. Sau khoảng chưa đầy một thế kỷ rưỡi kể từ khi người châu Âu bắt đầu mang theo những hình thái dân chủ, pháp quyền sơ khai tới Á Đông; và sau chỉ chưa đầy vài chục năm kể từ khi các mô thức dân chủ hiện đại đơm mầm, người Á Đông vẫn đang cố gắng làm quen với dân chủ. "Không hiểu sao nền dân chủ Thái Lan lại ra thế này", Thitinan Pongsudhirak, một giáo sư chính trị tại đại học Chulalongkorn ở Bangkok băn khoăn.

Niềm băn khoăn của Thitinan là dễ hiểu, khi mà PAD, vốn luôn nêu cao khẩu hiệu dân chủ, ủng hộ phong trào dân chủ 1992, thì lúc bấy giờ lại đang ra sức ủng hộ một mô thức bầu nghị sĩ phi dân chủ.

Và Thái Lan không phải là một ví dụ đơn lẻ, những điều tương tự cũng xảy ra, thi thoảng hoặc khá thường xuyên, ở những xã hội dân chủ Á Đông khác, như Hàn Quốc, Đài Loan, Philippines...

Điều đáng chú ý là, một số biểu hiện chệch choạng cụ thể này của dân chủ, đã làm gia tăng mối hồ nghi trong dân chúng về các giá trị dân chủ phương Tây. Ở Thái Lan, một bộ phận trong tầng lớp trí thức đã bắt đầu đồng cảm với quan điểm của Samuel P. Huntington rằng, một nền dân chủ phương Tây phổ quát (một kiểu trang phục one-size-fits-all) chỉ là ý chí chủ quan của phương Tây. Họ hồ nghi về tính phổ quát đó, và họ đã vặc lại bằng một câu cắc cớ quen thuộc: "Tại sao chúng tôi lại phải mang đôi giày dân chủ kiểu Âu - Mỹ? Chúng tôi có hình thức dân chủ phương Đông của chúng tôi".

Tồi tệ hơn, một số chệch choạng hiện tại, theo Beech, đã làm nảy sinh tâm lý hoài cổ trong dân chúng. Họ tiếc nuối những nhà độc tài bị lật đổ thuở xưa. Thật là một cái vòng luẩn quẩn! Chính những con người từng có khát vọng, hơn ai hết, lật đổ độc tài, thì giờ đây tâm hồn đang luẩn quẩn ở đâu đó trên chuyến tàu ngược về quá khứ. Tâm lý này là dễ hiểu. Khi người ta có một chút gì đó, có thể ít thôi, thất vọng về hiện tại, người ta sẽ sống với quá khứ nhiều hơn, người ta sẽ nhớ về những điều tốt đẹp và bỏ qua những u ám của quá khứ. Ở đâu cũng vậy.

Nhưng nếu tâm lý hoài cổ chỉ phảng phất đâu đó, thì có một sự thực rất thực, đó là người Á Đông vẫn còn bỡ ngỡ với dân chủ kiểu phương Tây, sau chừng ấy thời gian tiếp thu và vận dụng. Điều này cũng giống như một gã Á Đông cứ mãi cảm thấy chật chội trong chiếc áo com lê, nên cơi nới chỗ này, chắp vá chỗ kia. Thành ra chiếc com lê lịch lãm phương Tây khi đến tay gã đã trở thành một món trang phục nửa mùa, một thứ dấm dớ nào đó, đông chẳng ra đông, tây chẳng ra tây. "Chúng tôi có hình thức dân chủ phương Đông của chúng tôi", vì thế, là một ngụy biện, một sự chống chế.

Theo Beech thì dự án Barometer châu Á, một chương trình thăm dò ý kiến công chúng về chính trị, đã tìm thấy kết quả trong một cuộc thăm dò rằng: số đông người châu Á ủng hộ các giá trị dân chủ, nhưng tỉ lệ dân chúng mong muốn giảm bớt quyền lực của lãnh đạo thấp hơn nhiều so với châu Âu, thậm chí còn thấp hơn cả vùng Nam Sahara. Tức là, tinh thần dân chủ châu Á chưa triệt để bằng châu Phi. Chẳng hạn như ở Hàn Quốc, có tới hai phần ba những người được hỏi đồng ý rằng nên trao cho những nhà lãnh đạo tốt bụng quyền được làm bất cứ gì ông ta muốn, dù việc đó có thể phạm luật, một kiểu xuất hóa đơn khống vậy. Đây là một tàn dư, hay một giá trị, của tinh thần Khổng giáo.

Dân chủ, theo cách hiểu phổ thông hiện nay, là một giá trị mà người phương Tây sáng tạo ra. Giá trị đó không phải chỉ mới xuất hiện từ Cách mạng Hà Lan thế kỷ 16 hay từ khi Charles-Louis de Secondat, Nam tước xứ Montesquieu, xây dựng lý thuyết tam quyền phân lập. Nó đã được gieo mầm từ thời cổ đại, từ nhà nước Cộng hòa La Mã hay những thuyết luận của Aristotle. Nó là một phần của phương Tây, hay chính xác hơn, nó chính là phương Tây và phương Tây chính là nó.

Người phương Tây duy lý ít tin vào một nhà lãnh đạo tốt bung, nhưng họ tin có thể lập ra những thiết chế để hạn chế ở mức cao nhất mặt tiêu cực của nhà lãnh đạo. Đó chính là tư duy pháp trị. Trong khi đó, người Hàn Quốc, trong ví dụ ở trên, tin rằng nên trao quyền lực vô biên cho những nhà lãnh đạo tốt bụng. Đấy chính là khoảng cách trong cách hiểu dân chủ giữa người phương Đông và phương Tây.

Việt Nam, nằm ngay trên lộ trình Đông tiến của người châu Âu, đã va chạm rất sớm với nền văn minh phương Tây. Nhưng bánh xe lịch sử trớ trêu đã đẩy đất nước này đi theo một lối khác với Hàn Quốc, Thái Lan, Nhật Bản, Philippines... Thay vì nhập khẩu dân chủ phương Tây, Việt Nam chọn chủ nghĩa cộng sản - cũng là một sản phẩm nhập cảng từ phương Tây nhưng đến nay đã thất bại ngay chính trên mảnh đất mà nó sinh ra.

Vì hoàn cảnh này của Việt Nam, và đặc biệt hơn nữa là sau khi chuỗi nhà nước cộng sản ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, mà ham muốn dân chủ phương Tây bung ra như một lẽ tự nhiên, ngày càng mãnh liệt. Trước hết là ở tầng lớp trí thức tinh hoa, sau đó tới số đông dân chúng.

Nhưng cũng tương tự như các ví dụ ở trên, về Thái Lan, Hàn Quốc..., người Việt Nam sau chừng ấy năm dường như vẫn còn bỡ ngỡ, lúng túng trước cái khái niệm dân chủ, pháp quyền, xã hội dân sự... Trong hành vi hằng ngày của những người cổ súy dân chủ, có thể nhận ra những tàn tích của tư tưởng Khổng giáo, hoặc quán tính của một thời gian dài sống dưới chế độ cộng sản. Tiến sĩ luật Cù Huy Hà Vũ là một ví dụ sinh động về sự giằng xé nội tại trong cùng một con người.

Được đào tạo bài bản ở phương Tây, và trưởng thành trong thời buổi thoái trào của chủ nghĩa cộng sản tại châu Âu và Nga, ông Cù Huy Hà Vũ có tất cả những điều kiện và lý do để theo đuổi con đường mang hạt giống dân chủ phương Tây gieo xuống xứ sở này. Và chính ông đã mạo hiểm bản thân để thực hiện điều đó. Khi ông kiện chính phủ của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trong vụ bôxít Tây Nguyên, tôi không dám chắc rằng ông tin hành động đó sẽ dẫn tới một phán quyết của tòa án, đừng nói tới một phán quyết theo chiều hướng ông mong muốn, nhưng tôi tin rằng bằng hành động ấy, ông muốn thúc đẩy nhận thức về một xã hội pháp quyền, nơi mọi công dân đều công bằng trước pháp luật, đều phải trả lời pháp luật về hành động của mình. Khi ông hô hào đa đảng trên các báo đài hải ngoại, đó là lúc ông muốn có một nền dân chủ phương Tây ở đây. Ông là một con người vừa có khát vọng, vừa dám dấn thân, vừa có tư duy, vừa có ý chí. Thế nên, ông dễ dàng trở thành nguồn cảm hứng, thần tượng của đám đông đang khao khát những anh hùng dân chủ.

Nhưng mặt khác, cũng chính trong con người của tiến sĩ Vũ, tôi thấy vẫn còn phảng phất hình bóng của một đứa con cưng trong lòng chế độ cộng sản. Hay nói cách khác, quán tính của ngày trước đang giằng co với tư duy dân chủ của hôm nay. Sau vụ đập tường gạch nhà ông Vũ, ông đã vác đơn chạy thẳng lên Văn phòng Trung ương Đảng để tìm gặp ông Tổng bí thư Nông Đức Mạnh. Hình ảnh này hình như hơi đá nhau với chủ trương dân chủ, pháp quyền mà ông luôn nhấn nhá. Hay chẳng hạn như, lúc này, ông cổ súy dân chủ, tự do cá nhân, tự do báo chí, đả phá sự độc đoán của chính quyền, lúc khác, ông lại kêu gọi chính cái chính quyền mà ông cho rằng độc đoán ấy sử dụng công cụ độc đoán để ngăn cản một bộ phim mà theo ông là "giống Tàu". Kêu gọi tẩy chay, phê phán một bộ phim là quyền tự do công dân, điều bình thường trong một xã hội đa nguyên, nhưng cầu viện tới chế độ mà mình cho là độc đoán để thực thi một biện pháp độc đoán đối với một bộ phim, tôi e rằng là chưa thật ổn về mặt lập trường dân chủ. Dân chủ, pháp quyền không phải là những khái niệm có thể du di, ở chỗ này thì thế này, chỗ kia thì thế kia (*).

Tôi không cho rằng ông Vũ là một con người hai mặt. Nhưng tôi thấy rằng, trong cơ thể ông đang có một sự giằng xé nội tại, một bên là ý thức đấu tranh cho dân chủ, dân quyền, một bên là tâm lý con cưng chế độ vẫn còn rơi rớt lại. Đây là một sản phẩm lịch sử và nó vượt ra ngoài ý thức chủ quan của chủ thể.

Sự giằng xé này không chỉ tồn tại trong những cá nhân. Nó cũng tồn tại trong những xã hội. Chẳng hạn như một xã hội Thổ Nhĩ Kỳ luôn chịu sự giằng xé giữa một bên là các giá trị Hồi giáo và bên kia là tinh thần hướng Âu. Hay một xã hội Việt Nam luôn chịu sự giằng xé giữa truyền thống và hiện đại.

Thực ra, ông Vũ chỉ là một trong rất nhiều ví dụ về sự giằng xé ở những con người chủ trương dân chủ tại Việt Nam. Rất gần thôi, ở trên thế giới mạng này, có thể dễ dàng gặp các văn nghệ sĩ, các nhà khoa học, các trí thức cấp tiến, lúc này họ hô hào tôn trọng quyền tự do sáng tạo, họ lên án việc cấm Rồng Đá, Thời Của Thánh Thần, nhưng lúc khác họ lại cầu viện tới hội đồng xét duyệt văn học, hội đồng kiểm duyệt điện ảnh của cái nhà nước luôn bị họ ta thán ấy, kêu gọi các quan chức sa lông và ít có hiểu biết cũng như tinh thần trách nhiệm ra tay để loại bỏ tác phẩm này, tác phẩm kia khỏi giá sách, khỏi rạp chiếu phim, vì vong bản, vì lai Tàu, vì tầm thường, vì dâm tục - như Sợi Xích của Lê Kiều Như hay Hội Thề của Nguyễn Quang Thân chẳng hạn. Một số người, sau một thời gian đấu tranh, lại thấy mình như đang trở về cái thời hoàng kim của đấu tố.

Một xã hội đa nguyên, một xã hội dân chủ lành mạnh là một xã hội mà trong đó những tư tưởng khác nhau, thậm chí đối nghịch nhau có thể cùng tồn tại, dù va chạm nhau chan chát. Một người Mỹ vác súng sang chiến trường Iraq, đó là một người Mỹ yêu nước (Mỹ). Nhưng đồng thời, một người Mỹ xuống đường chống việc đưa quân sang Iraq, đó cũng là một người Mỹ yêu nước (Mỹ). Người lính ra trận vì họ tin rằng tiến hành cuộc chiến tranh này là tốt cho nước Mỹ, là nhằm bảo vệ lợi ích của nước Mỹ. Sinh viên xuống đường chống chiến tranh bởi không muốn nước Mỹ phải tốn máu, tốn tiền (còn tình yêu hòa bình, lòng trắc ẩn nào đó đối với người dân ở đất nước Iraq "nào đó" thì là điều xa xỉ). Những luồng tư tưởng đối nghịch đó cùng tồn tại và nước Mỹ vẫn không ngừng đi lên.

Từ góc độ của người quan sát, tôi từng thấy, trong số các "elite" dân chủ ở Việt Nam, một luật sư Lê Công Định với những ý thức dân chủ triệt để, không bị giằng xé giữa cái tôi độc đoán và luật chơi của dân chủ. Hay nói cách khác, ông hiểu rất rõ những giá trị mà ông theo đuổi (**). Nhưng ở ông lại thiếu mất sự sôi nổi, hào nhoáng của một nhà hoạt động hàng "elite", trong cái thời buổi mà người ta cần nhất sự sôi nổi, hào nhoáng này. Dễ hiểu vì sao ông ít tạo ra được cảm hứng mãnh liệt từ đám đông.
Và bây giờ thì ông cũng không còn "hot" nữa.

* Không mấy liên quan, nhưng không hiểu sao tôi chợt nhớ tới bộ phim hành động Blitz có tay diễn viên Jason Statham đóng vai người hùng cảnh sát. Gã giết người hàng loạt (mà toàn giết công an mới mấu chứ) bị sa lưới với rất nhiều thứ gần như là bằng chứng. Nhưng rốt cuộc, ba ngày sau, khi Statham và đồng sự không tìm ra bằng chứng nào đủ thuyết phục, thì cảnh sát buộc phải trả tự do cho Blitz. Nhân vật do Statham đóng nhận thấy, nếu để thằng Blitz này sống cho tới khi cảnh sát tìm ra bằng chứng đủ thuyết phục, thì e rằng sẽ có thêm nhiều cảnh sát nữa bị hạ. Thế là Statham dùng luật rừng để xử. Một phát súng trên sân thượng và thế là mọi việc kết thúc. Tôi thấy ở câu chuyện này một tinh thần pháp trị rất cao, đó là, trong mọi trường hợp, hãy lôi luật ra mà làm việc. Còn nếu không, anh hãy chọn luật rừng. Hoặc là luật pháp, hoặc là luật rừng, không có chuyện du di, linh hoạt.

--------------------

(**) Nhưng giờ ông đang ở tù. Giả sử ông thay cái tủ sách rất lớn ở nhà bằng tủ rượu thì chắc giờ này vẫn sống khỏe re. Khổ thế. Thời đại của những tủ rượu!

Nguồn:blogmrdo.blogspot.com

NHÂN VẬT TAM QUỐC.

Từ Thứ,tay công chức thứ thiệt

Từ Thứ
Xét về tài thao lược,có lẽ Thứ chỉ chịu xếp sau Ngoạ Long,Phượng Sồ.Vậy mà một chút sơ sểnh,Thứ phải lóc cóc về Tào,bắt đầu cuộc đời thân ở Tào,lòng ở Lưu.Không biết Thứ có mắc cỡ khi hàng tháng nhận lương đều đặn mà chẳng chịu làm gì,chẳng tham mưu cho Tào một ý kiến ý cò gì.Rõ Thứ giống một bộ phận công chức ngày nay:Ai cũng nhận lương mà không ai làm việc....Biết mà không nói.Kệ cho ông chủ Tào suýt chết cháy ở Xích Bích,Thứ lặng lẽ chuồn về Hứa Đô ngồi chơi cờ tướng.Không biết sau vụ đó Tháo có đuổi việc Thứ vì thiếu tinh thần trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng không,chứ các sếp chúng ta bây giờ nên cẩn thận với những nhân viên như thế này.

Trương Phi đánh Đốc Bưu, tội chống người thi hành công vụ

Trương Phi
Rõ là anh chàng họ Trương này sai lè lè ra rồi.Đốc Bưu là quan thanh tra,thì hiển nhiên là có đức hách dịch và đức vòi tiền như các quan thanh tra khác.Đời nào cũng vậy.Có trách là trách ông huyện Lưu Bị không biết cách bòn khoét của dân,ăn phần trăm các dự án tái thiết huyện sau cuộc chiến tranh với giặc Khăn Vàng để đút lót cho Bưu.Mà không biết ăn thì đừng làm quan,sớm muộn gì cũng rước hoạ vào thân.
Trương Phi cậy thân thế là em quan,dù là em nuôi,xông vào trói đánh Đốc Bưu,là vướng hai tội:Một là chống người thi hành công vụ,hai là tội làm nhục người khác.Còn thêm lỗi cậy thân thế con em quan chức để quậy phá gây rối,chưa kể có thể hành động khi nồng độ cồn trong máu vượt quá mức cho phép.Từng ấy thứ đủ đưa Phi ra toà với mức án từ 3 đến 7 năm rồi.
Còn ông huyện Bị,đã không đem phép nước ra trị ông em của mình,lại a dua theo treo ấn bỏ quan mà chưa được sự đồng ý của cấp có thẩm quyền.Tự ý bỏ việc như vậy là vi phạm pháp lệnh công chức rồi,lại bao che cho tội phạm Trương Phi,ông huyện Bị này chắc cũng phải ra toà vì tội không tố giác tội phạm quá.

Tại sao Tào Tháo giết Dương Tu ?

Tào Tháo
Thứ nhất,Tu đã cố ý đưa thông tin sai lạc.Trận đánh với Lưu Bị tại Nam Trịnh (Đông Xuyên),Tháo giao mật khẩu cho Hạ Hầu Đôn là Kê Cân,có nghĩa là gân gà,Tu đã thông tin cho binh lính thuộc quyền là Thừa tướng xuống lệnh rút lui nên sắm nắm hành trang chuẩn bị về.
Thứ hai,Tu cố ý làm lộ bí mật công tác.Tháo dặn lính hầu là Thừa tướng hay nằm mê giết người,nên không được ai lại gần khi Tháo ngủ.Một ngày Tháo đang ngủ trong trướng,đạp rơi chăn,tên lính hầu thấy vậy nhặt chăn đắp lại cho chủ.Tháo vùng đứng lên tuốt kiếm chém bay đầu kẻ khốn khổ rồi trùm chăn ngủ tiếp.Lát sau Tháo ngồi dậy vờ khóc lóc :Ai giết tên hầu của ta thế này,rồi cho làm ma to.Ai cũng thương xót cho tên hầu,chỉ có Dương Tu cười khẩy:Thừa tướng không ngủ mê đâu,ngươi mới là kẻ ngủ mê.Lộ bí mật công tác của Thừa tướng.
Thứ ba,Tu lợi dụng quyền tự do dân chủ.Khi Tháo đến xem việc sửa chữa cổng vườn phủ Thừa tướng,lấy bút đề chữ Hoạt vào cổng rồi bỏ về.Tốp thợ ngơ ngác không hiểu Thừa tướng muốn gì.Tu láu táu nói:Chữ Hoạt để bên cạnh chữ Môn (cửa) thành chữ Khoát nghĩa là rộng.Tốp thợ theo lời Tu sửa cổng hẹp lại.Chuyện chơi chữ là độc quyền của Thừa tướng mà Tu lại dám tự do hiểu ý thì...
Thứ tư,Tu lạm dụng chức vụ quyền hạn.Khi Tháo muốn thử tài hai con là Phi và Thực,sai hai người ra cổng thành nhưng ngầm ra lệnh cho lính canh ngăn lại.Phi không qua được cổng đành trở về.Chỉ có Thực nhờ Tu bảo trước nên hiên ngang tuốt kiếm chém bay đầu quân canh để đi qua với lý do:Ta phụng mệnh Thừa tướng ai dám ngăn trở...Vậy Tu đã lạm dụng chức vụ của mình được ở bên Thừa tướng biết được thông tin và bán thông tin cho Thực gây hậu quả cực kỳ nghiêm trọng.
Vậy Tu chết là phải lắm.Đâu có oan.

Viên Thiệu đóng tàu.

Viên Thiệu
Thiệu,xuất thân con nhà thế gia,ba đời làm tới tam công,bản thân hào hoa phong nhã,nắm quyền Đại tướng quân,ngồi trấn bốn châu Ký, Thanh, U, Tinh, lương đủ quân nhiều. Một ngày nọ bỗng nổi hứng tính đóng tàu lớn nam hạ đánh Tào Tháo.
Xét về tài nguyên vật lực,Thiệu không thiếu thứ gì,lại mới "vay tạm" binh lương của Công Tôn Toản,thừa sức đóng tàu to dọa tới ba đời nhà Tào Tháo.
Tuy nhiên,Thiệu lại có quá nhiều quân sư,mà kẻ nào cũng đeo quạt đầy mình.Quạt Tây Vực có,quạt Đông Thổ có,mà kẻ nào cũng cho quạt mình là nhất.
Thiệu tính thương người,lại thiếu khả năng quyết đoán,nên nghe quạt phía nào cũng mát.Thay vì đóng tàu Càn thiên áp lãng,Thiệu bèn gom tất cả các loại quạt để không mất lòng quạt nào,chế ra loại tàu Tứ phương bình bình,bề nào cũng bằng nhau,hình dung giống con giải Kiếm hồ,gọi là Viên Viên quy thuyền.
Đối trận với Tào,Viên viên quy thuyền xoay tròn tròn,tứ lục bát phương thọ địch.Lính Hà Bắc chóng mặt,ói mửa như lộng vũ.Rốt cuộc Viên Viên quy thuyền chìm nghỉm,Thiệu thổ huyết chạy về Hà Bắc.Quân tan thân bại.Bao nhiêu hùng khí đóng tàu ra biển lớn chết chìm theo tay Tào.
Vậy chăng,cái gì lai tạp cũng không nên.Tàu thuyền có dài có ngắn,cái gì ra cái ấy.Lai tạp làm gì cho khổ thân.

CÓ NÊN NUỐI TIẾC.




Có ba thứ trong đời không bao giờ nên tiếc nuối: Một tình yêu đã ra đi; một người bạn không xứng đáng và ngày hôm qua.

Bởi vì đó là những điều đã không còn có thực, không còn có ý nghĩa và không còn tồn tại trong ngày hôm nay và ngày mai của ta. Vì thế, là những điều không nên làm vướng bận lòng ta, không nên làm u sầu trái tim ta và làm rơi nước mắt ta thêm nữa.

Một sớm mai kia thức dậy, bạn có thể sẽ thấy người bạn yêu không còn là người đàn ông/đàn bà bạn đã yêu nữa. Bạn sẽ buồn vì họ? Sẽ đau vì không thể yêu người đó nữa? Sẽ tiếc nuối tình yêu đã có? Nhưng, hãy nghĩ: Khi bạn yêu họ, họ là người bạn yêu, với những gì bạn yêu. Khi họ không còn như thế nữa, hoặc khi bạn nhận ra họ chưa bao giờ như bạn nghĩ, cũng đừng cảm thấy đau buồn hay nuối tiếc. Bởi vì tình yêu đó, trước giây phút đổi thay đó đã là một tình yêu trọn vẹn, người yêu đó trước giây phút nhận ra đó đã là một người yêu trọn vẹn. Chỉ có điều, đó là một tình yêu đã qua, một người yêu đã ra đi. Và nên để gió cuốn bay đi...

Một người bạn không xứng đáng với những gì ta dành cho họ càng không bao giờ nên hối tiếc, cho dù có thể là một nỗi buồn trong thoáng chốc. Buồn không phải vì ta đã dành cho họ nhiều yêu thương mà họ không xứng đáng được nhận, cho đi là không bao giờ nên hối tiếc. Mà buồn vì cuộc sống không nên như thế, con người không nên như thế, vậy thôi. Dù sao, cũng nên sống hết mình, yêu thương hết mình. Đâu đó trong cuộc đời vẫn là những vòng tay rộng mở, còn những cái quay mặt đã ở sau lưng...

Và ngày hôm qua. Ngày hôm qua luôn là một cái bóng rất lớn, đôi khi là quá lớn lên hiện tại. Cho dù là cái bóng của hạnh phúc hay bất hạnh. Có những người không bao giờ thoát nổi ra khỏi cái bóng đó để bước đi về phía ngày mai. Nhưng bạn biết không, chỉ những người không nhìn thấy bóng mình vì bận rộn ngẩng cao đầu bước mới không luẩn quẩn ở cái bóng của mình mãi. Ngày hôm qua chỉ là một cái bóng. Mà chúng ta thì cần điều gì đó rõ rệt, mang dáng dấp, hơi thở, sự sống. Đừng đuổi theo cái bóng đó, bạn nhé. Nó cũng giống như ngồi thở than vọng tưởng những cánh bướm mùa trăng tròn thuở xưa. Hãy cứ thương nhớ nhưng đừng bao giờ tiếc ngày hôm qua. Ngày hôm qua đã qua rồi...

Đôi khi, đúng hơn là rất nhiều khi tôi cũng thấy buồn. Nhưng tuyệt nhiên không bao giờ cho phép mình nuối tiếc. Tôi tin, rất tin cuộc sống cần dựa trên những nỗ lực không mệt mỏi để vươn lên, để cho đi và để biết trân trọng hiện tại, hướng tới ngày mai. Những gì đã cho đi là những điều quý giá. Những hạnh phúc đã mang đến cho người là những món quà tự tặng mình. Những yêu thương đã trao là những yêu thương được nhận. Ngay cả những nỗi buồn cũng là một trải nghiệm ý nghĩa. Những cho nhận ấy ngày hôm nay và ngày mai nhìn lại ta mới có thể thấy hết giá trị của đời mình.

Những người luôn bận lòng với những đố kị, day dứt với những đau khổ, trẫm mình trong nước mắt, giam mình trong những ám ảnh về quá khứ và dằn vặt mình với những đòi hỏi yêu thương là những người không bao giờ có thể hạnh phúc, không bao giờ biết giá trị đích thực của cuộc sống.

Một sớm mai kia khi tất cả sẽ thành hư vô trong đời, tôi mong bạn sẽ mỉm cười. Vì mình đã sống những ngày trọn vẹn.

TIỂU NHÂN & QUÂN TỬ.


Khổng Tử

1. Hai từ “Tiểu nhân” vốn có xuất xứ từ kinh Phật, trong Tạp thí dụ kinh. Chuyện là xưa có người tiểu nhân ngoại quốc hầu hạ người quyền quý, muốn lấy lòng người này, hễ thấy người quyền quý dổ một bãi nước bọt thì chạy liền đến dùng bàn chân xóa sạch đi. Trong số đó có một người tay chân chậm chạp, tuy cũng muốn lấy chân mình dẫm lên bãi nước bọt mà không kịp. Một lần, người giầu sang chúm miệng lại như sắp dổ nước bọt, anh ta liền giơ bàn chân giẫm lên miệng người giầu sang kia. Người giầu sang quát: “Mày muốn làm phản hả? Sao lại đạp lên miệng tao?” Tiểu nhân trả lời: “Tôi có ý tốt, số là ngài dổ nước bọt tôi muốn dẫm lên xóa sạch, nhưng nước bọt vừa ra khỏi miệng ngài thì người ta đã gianh nhau xóa mất rồi, tôi luôn luôn không kịp, vì vậy giờ tôi phải xéo lên bãi nước bọt khi nó còn ở trong miệng ngài”.

2. “Tiểu nhân” là từ trái nghĩa với “quân tử” mà Nho gia dùng để gọi những người phẩm chất hèn kém hay địa vị thấp kém. Luận ngữ – Vi chính viết: “Bậc quân tử trung tín với tất cả mọi người mà không bè đảng, còn tiểu nhân thì bè đảng mà không trung tín với tất cả mọi người” (Quân tử chu nhi bất tị, tiểu nhân tị nhi bất chu).

3. Quân tử là người có tài học, đức hạnh hoặc làm quan theo quan niệm Nho gia. Tiểu nhân thì ngược lại. Khổng Tử chủ trương người thống trị nên thi hành nhân chính, dùng đức tốt mà giáo hóa trăm họ chứ không nên hơi một tí là sát phạt. Luận ngữ – Nhan Uyên: “Quan Thượng khanh nước Lỗ là Quý Khang Tử hỏi Khổng Tử rằng, nếu giết kẻ vô đạo để thành hữu đạo thì thế nào? Khổng Tử đáp, ngài làm chính sự, cần gì phải giết chóc? Đức của người quân tử ví như gió, đức của kẻ tiểu nhân ví như cỏ. Gió lướt trên, cỏ ắt phải rạp xuống” (Quân tử chi đức phong, tiểu nhân chi đức thảo. Thảo thượng chi phong, tất yển).

4. “Cửu tư” (chín điều cần suy nghĩ) là chuẩn tắc tu thân xử thế của người quân tử. Luận ngữ – Quý thị: “Khổng Tử nói: Người quân tử có chín điều lo nghĩ: nhìn lo sao cho tinh, nghe lo sao cho sáng, vẻ mặt lo sao cho hòa nhã, thái độ lo sao cho khiêm cung, nói năng lo sao cho trung thực, làm việc lo sao cho thận trọng, nghi ngờ lo sao cho hỏi ra lẽ, bực tức lo tới hậu quả hoạn nạn, thấy được (lợi) phải lo tới nghĩa”.

5. Người quân tử có ba lần biến đổi (Quân tử tam biến – lời của Tử Hạ, học trò Khổng Tử). Luận ngữ – Tử Trương: “Người quân tử có ba lần biến đổi: nhìn từ xa thì thấy nghiêm trang đường bệ, đến gần tiếp xúc thì thấy thái độ ôn hòa, nghe lời nói thì thấy ngay chính, nghiêm túc”.

6. Quân tử có ba lỗi (quân tử tam khiên) là kinh nghiệm của Khổng Tử rút ra khi đi du thuyết chư hầu. Luận ngữ – Quý thị: “Hầu chuyện bậc quân tử có ba lỗi: nói chưa tới lượt mình mà đã nói, thế là bộp chộp; nói đã tới lượt mình mà không nói, là giấu giếm; chưa thấy vẻ mặt ra sao mà đã nói, là mù quáng”.

7. Người quân tử có 3 niềm vui (quân tử tam lạc). Mạnh Tử – Tận tâm thượng: “Người quân tử có ba niềm vui mà việc làm vua thiên hạ cũng chẳng dự được vào đấy (chẳng vui bằng). Cha mẹ đều còn, anh em vô sự, đó là một niềm vui. Ngẩng lên không thẹn với trời, cúi xuống không thẹn với người, là hai niềm vui. Có được những anh tài trong thiên hạ mà giáo dục, dạy dỗ là ba niềm vui”.

8. Người quân tử cầu ở mình, kẻ tiểu nhân cầu ở người (quân tử cầu chư kỉ, tiểu nhân cầu chư nhân – Luận ngữ – Vệ Linh công). Đó là hai loại triết học xử thế khác nhau?!

9. Người quân tử không có điều gì phải tranh chấp (quân tử vô sở tranh – Luận ngữ – Bát dật). “Người quân tử không có điều gì phải tranh chấp. Nếu có, ắt là thi bắn cung chăng? Vái chào nhường nhau mà bước lên, rồi xuống mà uống rượu. Đó là sự tranh đua của người quân tử chăng?” Ấy là Nho gia chủ trương một mực giữ lễ, dùng lễ để kiềm chế việc tranh chấp, thung dung nhường nhịn, để duy trì sự ổn định trong xã hội.

Nguồn:huyminh.wordpress.com

Thứ Ba, 2 tháng 8, 2011

SÁI UNG KHÓC ĐỔNG TRÁC.


Sái Ung

Nghe theo lời của Lý Nho, Đổng Trác cho vời Sái Ung. Sái Ung không ra. Trác doạ nếu không ra sẽ giết chết cả nhà. Thế là Ung phải ra..

Trác thừa biết uy tín và tài năng biết điều phải điều trái của Ung trong vụ dâng sớ tố cáo bọn hoạn quan trước đó. Nhưng liệu Trác có cần nghe Ung chỉ bảo cho mình những điều tương tự như thế?.

Đổng Trác
Không đâu. Chân lý của Trác là theo kiểu “Có chính quyền là có tất cả”. Trước văn võ bá quan Trác đã từng tuyên bố:” Việc thiên hạ trong tay tao. Nay tao làm thế đấy, kẻ nào dám không nghe? Hãy nhìn thanh gươm này có sắc hay không!" Thế thì cần gì cái lão Sái Ung kia tư vấn điều này điều nọ về chân lý về lẽ phải…Mọi mưu mô quỷ kế thì đã có Lý Nho rồi.

Thế mà Trác vẫn cần Sái Ung đấy. Trác đã thăng chức cho Ung 1 tháng 3 lần đến chức Thị trung, hậu đãi lớn. Trác quyết tâm biến Sái Ung thành một cây cảnh thực sự tươi tốt để dù sao cũng được tiếng là chiêu hiền đãi sỹ. Thế thôi.

Một điều khó hiểu là: Sái Ung thừa biết tim đen của Trác trong việc sử dụng mình như một cây cảnh. Sái Ung cũng hàng ngày thấy những trò khát máu man rợ của Trác.

Thế mà khi đầu Trác được bêu ngoài chợ, chỉ có một người duy nhất đến khóc là Sái Ung. Khó hiểu không?

Thật sự cũng đâu có gì khó hiểu.

Đâu phải cứ văn tài tột bực thì nhân cách cũng cao quý liền theo. Trần Lâm đấy, thảo hịch giúp Viên Thiệu chửi Tào Tháo không còn cái mủng rách mà khi Thiệu bại lại khúm núm theo hầu Tào, còn tự nhận mình là con chó nhà chỉ biết chủ nó.
Sái Ung thời gian đầu cũng có cốt cách đại nho, chống lại Thập thường thị.Bị cách chức về quê làm ruộng không kham nổi thời buổi thóc cao gạo kém, vợ bìu con ríu đành tặc lưỡi xuôi theo khi Đổng Trác đến mời.Làm việc với Trác,được huấn thị hằng ngày về quyền và nghĩa vụ của trí thức trong thời đại mới,Sái Ung ngẫm ra cái lý sống trên đời rằng một chính quyền ra đời trên mũi súng (xin lỗi,gươm) thì đâu có chỗ cho trí thức.Nếu muốn có vài ký gạo nuôi vợ con thì khôn hồn...Vậy là Ung ta ung dung véo von trong cái lồng son bao cấp của Trác.Trác chết, chư hầu bốn phía nổi như ong, thời buổi kinh tế thị trường đâu còn ai bao cấp.Lười biếng quen thói, sợ đói ăn nên Ung khóc to tiếc những ngày bao cấp xa xưa thôi chứ có gì lạ đâu?

Thứ Hai, 1 tháng 8, 2011

VÌ SAO A ĐẨU ĐƯỢC NỐI NGÔI?


Lưu Bị

Gia Cát Lượng

Vĩnh An cung. Không khí ban trưa tịch mịch. Chiêu Liệt hoàng đế khẽ vẫy tay cho bọn Gia Cát Lượng, Lý Nghiêm ra ngoài. Thở nặng nhọc, đôi mắt trũng sâu qua mấy ngày đi lỵ không được bù nước kịp thời, ngài chìm đắm trong suy nghĩ miên man.

Tờ di mệnh đã thảo sẵn. Cái tên Lưu Thầm đã được khuyên đỏ. Bên tai ngài còn văng vẳng giọng nói thống thiết của Gia Cát Lượng: "...Bệ hạ, vì cơ nghiệp muôn đời của nhà Hán, vì sự nghiệp thống nhất Trung Nguyên, xin bệ hạ di mệnh cho Bắc Địa Vương lên ngôi cửu ngũ. Bắc Địa Vương phong tư anh tuấn, tài lược trầm hùng, trên có thể kế thừa đại thống, dưới có thể chăn dắt muôn dân, bắc phạt, bình nam mở mang bờ cõi Thục Hán. Thần nguyện đem hết sức khuyển mã tôn phù..."

Chiêu Liệt thở dài. Chẳng phải ngài không nhìn thấy. Thằng A Đẩu tuy là con ta, lại là con trưởng nhưng tư chất ngu độn,thêm có chứng phong xù, chỉ có gái là tài. Có lẽ vì năm xưa bên cầu Trường Bản ta quá nặng tay khi ném nó xuống đất. Vì việc đó mà Cam phu nhân mè nheo ta hoài. Nhưng đàn bà, biết đâu được chuyện chính trị. Ta không làm vậy, dễ gì Tử Long, một hổ tướng ngàn năm khó tìm, trung thành hết mực với ta...Mưu mẹo của ta, e rằng chỉ có Gia Cát Lượng và Tào Tháo là hiểu. Tháo nay chết rồi, còn Gia Cát Lượng ta cũng test va rồi. Va lỡ hứa gan óc lầy đất trung thành với ta, với con cháu ta,không phải lo va phản...Thằng Thầm thì tư chất hùng anh, đủ sức nối đại thống...Nhưng mà...
Chiêu Liệt với tay cầm tờ mật thư của Bắc Ngụy do Hoa Hâm đưa tới bữa qua:"...Việc nối ngôi là chuyện nội bộ nước Thục, Bắc Ngụy không can thiệp. Tuy nhiên, chúng tôi muốn A Đẩu Lưu Thiện nối ngôi. Vì chuyện phế trưởng lập thứ xưa nay luôn bất ổn, huống hồ ngài bỏ con lập cháu. Võ hoàng đế Bắc Ngụy chúng tôi buộc phải bỏ Tào Thực lập Tào Phi là vậy. Nếu ngài lập A Đẩu, chúng tôi thề muôn đời hữu hảo, không xâm lấn biên giới của Thục, còn cứu trợ gạo tiền khi Thục gặp năm thiên tai mất mùa.Kế môi răng ấy,xin ngài lưu ý..."
Chiêu Liệt lại suy nghĩ...Kể ra, có được vị vua như Lưu Thầm, Tây Thục quả là đại phúc. Nhưng mối nguy Bắc Ngụy còn đó. Tây Thục lương ít, người thưa,tuấn kiệt như lá mùa thu, nhân tài như sao buổi sớm, có mỗi Gia Cát Lượng thì dạo này thấy va ho nhiều, xuống sức quá, có khi bị lao tới nơi, liệu có thể giúp con ta chống chọi được mấy nỗi. Chi bằng hòa với Bắc Ngụy, thậm chí nộp cống xưng thần với họ cũng được, miễn sao giữ được ngai vàng là được rồi...Chống chọi với họ làm chi có khi mất cả chì lẫn chài...

Run run, Chiêu Liệt vớ lấy ngọn bút lông thỏ,dầm đẫm mực...
Cơn đau chói nơi ngực trái...chới với, bàn tay buông thõng, cây bút lăn tròn. Thị vệ la hoảng, tiếng người chạy xáo xác, tiếng la thét gọi ngự y...Chiêu Liệt đã về trời...

Gia Cát Lượng thất thần nhìn sững tờ di chiếu. Chữ Thầm đã bị xóa, thay vào đấy là chữ Thiện còn tươi mới. Uất nghẹn, Lượng ngửa mặt lên trời, gọi với nghẹn ngào:"Bệ hạ..."

Bá quan xì xào:"Tội nghiệp Võ hầu, trung thành đến phút cuối..."

Hàng tùng trước sân héo rũ.Thương Chiêu Liệt? Hay thương Gia Cát?...

CỌP GIẤY KHOA HỌC.

Trung Quốc là cọp giấy khoa học?
Bài báo dưới đây “Chinese Innovation Is a Paper Tiger” (trên tờ Wall Street Journal) là một kiểu chơi chữ hay. Kết luận của bài báo này (hai tác giả là người gốc Trung Quốc và Ấn Độ - nhìn qua họ thì đoán được) là về sáng tạo và khoa học, Trung Quốc chỉ là con cọp giấy. Hình như người Việt chúng ta cũng từng nói như thế. Sẵn đây, tôi trình bày vài dữ liệu khác để củng cố cho nhận xét của hai tác giả trên.

Cách tốt nhất để biết khoa học Trung Quốc (TQ) đang đứng đâu là đọc báo cáo khoa học của UNESCO. Tôi đã đọc báo cáo này và tóm lược vị thế của Việt Nam trong một bài trước. Tính chung, khoa học TQ đứng hạn 18 trên thế giới. Với thứ hạng này TQ đứng sau Mĩ, Anh, Pháp, Đức, Canada, Úc, nhưng cao hơn Hàn Quốc (hạng 21) và Singapore (31). Chúng ta có thể nhìn kĩ xu hướng khoa học của TQ trong mấy năm qua như sau:

Năm 2000, TQ có khoảng 695 ngàn nhà nghiên cứu, nhưng năm 2008 họ có 1.6 triệu nhà nghiên cứu. Một sự tăng trưởng gấp 2,3 lần trong vòng có 8 năm. Con số này cho thấy họ quyết tâm đầu tư vào con người khoa học.

Số ấn phẩm khoa học TQ tăng nhanh trong 10 năm qua. Trong 10 năm 1998-2008, TQ công bố được 573,486 bài báo khoa học. Phải đặt con số này trong bối cảnh chung mới thấy họ còn kém hơn nhiều so với Mĩ (2,959,661 bài), Nhật (796807 bài), Đức (766146), Anh (678686), Pháp (548279). Tuy nhiên, số liệu gần đây cho thấy TQ đã vượt qua Nhật về con số ấn phẩm khoa học, và đứng hạng hai về số ấn phẩm khoa học.

Nhưng chất lượng nghiên cứu khoa học của TQ còn rất thấp. Chỉ số trích dẫn trung bình của TQ la là 4.61/bài, so với Mĩ là 14.28/bài. Thật ra, chỉ số trích dẫn của TQ là thấp nhất so với các nước tiên tiến như Nhật (9.04), Đức (11.5), Anh (12.92), thậm chí thấp hơn cả Ấn Độ (4.59).

TQ mạnh về lĩnh vực khoa học vật liệu và hóa học nhưng rất kém về sinh học phân tử và y học. Số liệu 2004-2008 cho thấy số ấn phẩm khoa học của họ trong ngành khoa học vật liệu (material science) chiếm ~21% tổng số ấn phẩm thế giới (năm 1999-2003 họ chỉ chiếm 12%). Sau ngành khoa học vật liệu, họ còn mạnh các ngành khác như hóa học (16.9%), vật lí (14%), toán (12.8%), kĩ thuật (10.9%), khoa học máy tính (10.7%). Tuy nhiên, ngành TQ kém nhất là miễn dịch học, chỉ chiếm 3.5% tổng số ấn phẩm ngành này trên thế giới, và sinh học phân tử (4.5%).

Ai là bạn khoa học của China? Đứng đầu là Mĩ, kế đến là Nhật, Anh, Đức, Canada, và Úc. Nga đứng chót bảng.

Khả năng sáng tạo của TQ cũng kém. Trong năm 2007, TQ đăng kí 5465 bằng sáng chế (trong hệ thống PCT). Con số này còn khiêm tốn hơn so với Nhật (27749), Hàn Quốc (7065), Pháp (6246), Đức (17825), và dĩ nhiên là Mĩ (51296). Số bằng sáng chế trên 1000 nhà nghiên cứu của China là 3.8, thấp nhất so với Nhật (39.1), Mĩ (36), Hàn Quốc (32), Đức (63), Pháp (30) và Anh (32).

Những số liệu trên (trích từ UNESCO Report 2010) cho thấy TQ hiện đang là cọp giấy trong khoa học. Họ xuất bản rất nhiều bài báo khoa học nhưng chất lượng nói chung là thấp. Họ cũng rất thấp trong phát minh (điển hình qua con số bằng sáng chế). Dĩ nhiên, đây đó thì cũng có bài tốt trên Science hay Nature (cũng như VN ta cũng có bài tốt), nhưng tính chung thì chất lượng của TQ còn rất thấp. Dù hiện nay thì họ là cọp giấy, nhưng nhìn qua xu hướng 10 năm thì trong tương lai chắc họ sẽ là cọp thật, còn bao nhiêu năm để thành cọp thật thì chưa biết.

Còn kinh nghiệm cá nhân của tôi với các công trình khoa học từ TQ là không mấy tốt. Tôi (và Nguyên) phục vụ trong ban biên tập vài tập san y khoa, nên thường xuyên duyệt bài của đồng nghiệp TQ. Ấn tượng chung của tôi là họ chẳng làm gì có tính cách original cả; phần lớn chỉ là những công trình mang tính “me too” (tức là thấy người ngoài làm, họ lặp lại ở TQ). Do đó, tỉ lệ từ chối những bài từ TQ rất cao. Chẳng hạn như năm ngoái khi chúng tôi họp ban biên tập, người phụ trách xuất bản báo cáo cho biết trong năm qua tập nhận gần 50 bài từ Trung Quốc, nhưng chỉ công bố có 3 bài! Cần nói thêm rằng tỉ lệ từ chối của tập san JBMR này là 75%. Lí do từ chối thì có nhiều: thiếu tính original, phương pháp sai, tiếng Anh quá kém, vi phạn y đức, v.v. Có những bài mà tiếng Anh quá kém, nên chúng tôi phải trả lại. Nhưng sau này thì họ khá hẳn về tiếng Anh, tuy vẫn còn kém về nội dung khoa học.

Riêng về vi phạm y đức thì chính tôi từng có một kinh nghiệm rất hi hữu. Bài báo đó đã được duyệt 3 lần, và tổng biên tập viết thư chấp nhận. Nhưng một người nặc danh từ TQ viết thư cho tôi (có lẽ người này thấy tên tôi không phải TQ và cũng chẳng phải Tây) nói rằng bài báo đó nói láo rằng công trình đã qua ủy ban y đức phê chuẩn nhưng thật ra thì không có ủy ban nào phê duyệt cả. Vì nghiên cứu này mang tính xâm phạm (lấy biopsy – sinh thiết xương, rất đau) nên tôi đề nghị tổng biên tập yêu cầu nhóm tác giả cho coi văn bản ủy ban y đức đã phê chuẩn cho biopsy và nghiên cứu nói chung. Họ không trưng bày được văn bản. Bài báo bị từ chối ngay. Từ đó, chúng tôi rất sợ những bài báo từ TQ, vì họ có xu hướng nói láo và vi phạm y đức trắng trợn. Có thể chỉ một số nhỏ là như thế, nhưng qua nhiều vụ đạo văn, thiếu trung thực, và vi phạm y đức, nên những bài báo từ TQ thường bị duyệt rất cẩn thận.

Nói tóm lại, tôi nghĩ một ngày không xa, TQ sẽ vượt Mĩ về số ấn phẩm khoa học, nhưng về chất lượng thì tôi không nghĩ họ sẽ vượt qua Mĩ, ít nhất là trong vòng vài chục năm. Ngay cả Nhật, một dân tộc vĩ đại hơn TQ nhiều lần, mà cho đến nay vẫn không qua được Mĩ và Âu châu về tính sáng tạo và chất lượng nghiên cứu khoa học. Tôi nghĩ cái giá TQ phải trả để có vị trí số 2 (về số lượng) như ngày nay chắc là đắt lắm. Bao nhiêu nạn nhân đã hi sinh vì vi phạm y đức? Bao nhiêu vụ giả tạo dữ liệu? Không ai biết được, nhưng với tham vọng “tiến nhanh, tiến mạnh” như hiện nay, tôi nghĩ một phần không nhỏ những bài báo họ công bố có thể ví như là lâu đài được xây trên cát, không bền vững. Mới đây nhất là một trường hợp một nhà khoa học TQ bị buộc phải rút lại 70 bài báo ông đã công bố vì ngụy tạo dữ liệu. Sự kiện vô tiền khoáng hậu này gây chấn động trong giới khoa học, và nhiều người không còn tin vào khoa học TQ.

Việt Nam chúng ta không nên học họ.

NVT

By ANIL K. GUPTA
AND HAIYAN WANG

Hardly a week goes by without a headline pronouncing that China is about to overtake the U.S. and other advanced economies in the innovation game. Patent filings are up, China is exporting high-tech goods, the West is doomed. Or so goes the story line. The reality is very different.

To be sure, China's R&D expenditure increased to 1.5% of GDP in 2010 from 1.1% in 2002, and should reach 2.5% by 2020. Its share of the world's total R&D expenditure, 12.3% in 2010, was second only to the U.S., whose share remained steady at 34%-35%. According to the World Intellectual Property Organization, Chinese inventors filed 203,481 patent applications in 2008. That would make China the third most innovative country after Japan (502,054 filings) and the U.S. (400,769).

But more than 95% of the Chinese applications were filed domestically with the State Intellectual Property Office—and the vast majority cover "innovations" that make only tiny changes on existing designs. A better measure is to look at innovations that are recognized outside China—at patent filings or grants to China-origin inventions by the world's leading patent offices, the U.S., the EU and Japan. On this score, China is way behind.

The most compelling evidence is the count of "triadic" patent filings or grants, where an application is filed with or patent granted by all three offices for the same innovation. According to the Organization for Economic Cooperation and Development, in 2008, the most recent year for which data are available, there were only 473 triadic patent filings from China versus 14,399 from the U.S., 14,525 from Europe, and 13,446 from Japan.
Starkly put, in 2010 China accounted for 20% of the world's population, 9% of the world's GDP, 12% of the world's R&D expenditure, but only 1% of the patent filings with or patents granted by any of the leading patent offices outside China. Further, half of the China-origin patents were granted to subsidiaries of foreign multinationals.

Why is there such a big gap between innovation inputs and outputs? Partly it may simply be a matter of time. Innovation requires not just new efforts but also a rich stock of prior knowledge. As new players on the technology frontier, Chinese organizations will need several years to build the requisite stock of knowledge.

But other factors are also at work. For instance, the allocation of government funds for R&D projects is highly politicized. As Yigong Shi and Yi Rao, deans of Life Sciences at Tsinghua and Peking Universities respectively, observed in a recent editorial in Science magazine, for grants ranging from tens to hundreds of millions of yuan, "it is an open secret that doing good research is not as important as schmoozing with powerful bureaucrats and their favorite experts.. . . . China's current research culture . . . wastes resources, corrupts the spirit, and stymies innovation."

China's research culture also suffers heavily from a focus on quantity over quality and the use of local rather than international standards to assess and reward research productivity. The result is a pandemic of not just incrementalism but also academic dishonesty.

A 2009 survey by the China Association for Science and Technology reported that half of the 30,078 respondents knew at least one colleague who had committed academic fraud. Such a culture inhibits serious inquiry and wastes resources.

China's educational system is another serious challenge because it emphasizes rote learning rather than creative problem solving. When Microsoft opened its second-largest research lab (after Redmond, Wash.) in Beijing, it realized that while the graduates it hired were brilliant, they were too passive when it came to research inquiry.

The research directors attacked this problem by effectively requiring each new hire to come up with a project he or she wanted to work on. Microsoft's approach is more the exception than the rule among R&D labs in China, which tend to be more top-down.

Yes, China is making rapid strides in some areas such as telecommunications technology. However, on an across-the-board basis, it still has quite some distance to cover before becoming a global innovation power.

Mr. Gupta is professor of strategy and entrepreneurship at the University of Maryland. Ms. Wang is managing partner of the China India Institute. They are the co-authors of "Getting China and India Right"(Wiley, 2009).

Nguồn:nguyenvantuan.net

Thứ Bảy, 30 tháng 7, 2011

SỬ HỌC & HỌC SỬ

VĂN CẦM HẢI


Nhà thơ Văn Cầm Hải (giữa), Tây Tạng.

Nhân đọc bài Điểm Thi Môn Sử Thấp Không Ngờ trên báo Tuổi Trẻ, tôi không bất ngờ về thực trạng có trên 90% bài thi môn sử dưới điểm mức trung bình trong kỳ thi tuyển đại học năm nay.[1] Người ta lý giải rằng, vì môn sử khó học do phải nhớ nhiều sự kiện, mốc thời gian hoặc khi không công bố là môn thi tốt nghiệp thì việc học lẫn dạy bị xem nhẹ. Theo tôi, điều này chỉ đúng một phần.

Nhớ lại thời kỳ học sinh, dù là người yêu thích các môn học khoa học xã hội, nhưng tôi cũng ngán học môn sử bởi cách thức học và dạy thô cứng. Sử học, như muôn đời qui luật hấp dẫn của nó là luôn chứa đựng sự bí ẩn để nó không ngừng được khám phá và đồng hành cùng thời đại. Tuy nhiên, môn sử mà tôi học dường như chẳng có gì mới, chẳng có gì gọi khám phá vì tất cả đều có sẵn một công thức: ta thắng địch thua. Trong lớp học không có sự phản biện, nhất loạt đều nói và nghe một chiều nhàm chán. Phản biện ư? Không khéo lại bị quy chụp là phản động hoặc bôi nhọ dân tộc, nghi ngờ sự lãnh đạo tài tình của Đảng. Có lần, tôi hỏi một thầy giáo dạy sử, tại sao ta luôn thắng mà cuộc chiến tranh với Pháp và Mỹ phải kéo dài đến mấy mươi năm máu lửa? Sao các lãnh tụ của ta, cũng là người như bao nhiêu lãnh tụ có sai có đúng trên thế giới, nhưng luôn luôn sáng suốt, không bao giờ mắc sai lầm? Không lẽ, lãnh đạo của ta là các bậc thánh? Chúng ta học sử để thấu hiểu những thăng trầm của dân tộc, lĩnh hội những kinh nghiệm bao hàm cả kinh nghiệm thành công lẫn thất bại. Thầy nghiêm giọng bảo tôi đừng lặp lại câu hỏi đó, nếu không cả thầy lẫn trò đều có nguy cơ rời trường ra đường! Học sử, dạy sử mà sợ sự thật lịch sử đến như vậy, thử hỏi làm sao học sinh và giáo viên có được niềm đam mê đích thực với một trong những môn học quan trọng nhất của nhân loại.

Khác với cách dạy và học sử ở Việt Nam, tôi bất ngờ về cách thức giảng dạy lịch sử rất linh hoạt và hấp dẫn ở Mỹ. Có lần tôi thấy cậu con trai mới học lớp 5 say sưa trên máy tính mãi đến khuya quên cả ngủ. Hỏi ra mới biết là cu cậu đang “nghiên cứu” chiến tranh lạnh và hậu quả của nó! Tôi choáng người khi đọc những câu hỏi về các sự kiện và nhận định cơ bản, quan điểm khác biệt chủ yếu giữa các nước cộng sản và không cộng sản. Con tôi giải thích đó là một dự án nghiên cứu-bài tập cô giáo đặt ra cho học sinh. Tôi bảo con có hiểu gì đâu mà cô giáo bảo nghiên cứu. Cậu con trai tôi liền cho tôi một bài học: Sao cái gì ba cũng bắt phải hiểu mà không hỏi có thích thú hay không, nếu không thích làm sao hiểu được! Chương trình lớp 5, lịch sử được xếp vào bộ môn khoa học xã hội là một một trong các môn học cả lớp thích nhất vì cả lớp được xem phim tài liệu, hình ảnh và các bạn thuyết trình từng chủ đề rất sôi động. Đặc biệt cô giáo rất khuyến khích bạn nào đưa ra những câu hỏi hay ý tưởng mới, đi ngược lại với những điều trên phim hay trong sách đã viết. Tôi có dự thính một lớp học về chiến tranh Việt Nam của ông giáo sư từng là cựu binh Mỹ ở Playcu năm 1971 và rất lấy làm hứng khởi bởi cách dạy và học sinh động như là một cuộc du ngoạn vào quá khứ hơn đang ngồi bó cứng trong giảng đường chứa đến hàng trăm sinh viên trong và ngoài khoa sử dự học. Tất cả các bài giảng đều có trích đoạn những thước phim tài liệu, phim truyện, âm nhạc phản chiến minh họa cực kỳ sinh động. Một tiết học hơn một tiếng rưỡi nhưng giáo sư chỉ giảng bài chừng 20 đến 30 phút, phần còn lại là xem sử liệu minh họa và tranh luận, thuyết trình theo nhóm về các chủ đề. Nội dung giáo trình do giáo sư tự biên soạn rất phong phú, không bị ràng buộc theo công thức“ta thắng địch thua” nên những cái được cái mất của chính phủ Mỹ, sự thất bại cay đắng của quân đội Mỹ, tinh thần chiến đấu của người lính cộng sản ví như bác sỹ Đặng Thùy Trâm trong cuốn nhật ký chiến trường của cô hay Nỗi Buồn Chiến Tranh của Bảo Ninh đều được khảo xét kỹ càng.

Sử học và học sử ở Mỹ, không chỉ đắm chìm vào quá khứ mà còn nghiên cứu những vấn đề sử học đương đại, cập nhật với đời sống đang diễn ra trên thế giới. Trong khi cuộc chiến Iraq hay Afghanistan đang diễn ra nóng bỏng thì ở Mỹ, không ít công trình nghiên cứu liên quan đến những trận chiến này đã xuất hiện kịp thời, giúp cho việc giảng dạy và học sử về chiến tranh hiện đại trong nhà trường có được cái nhìn cận cảnh và nóng hổi của thời đại. Sử học, có thể không phải là một trong những chuyên ngành lựa chọn hàng đầu của sinh viên nhưng thực sự nó không phải là môn học buồn tẻ ở các cấp học nhờ vào phương pháp truyền thụ và lĩnh hội sinh động như vậy.

Nhìn lại bối cảnh dạy và học sử ở Việt Nam, lòng dân không quên nhưng các sự kiện lịch sử đương đại quan trọng của đất nước lại bị lờ đi. Tại sao trận hải chiến Hoàng Sa 1974, chiến tranh biên giới phía Bắc 1979, hải chiến Trường Sa 1988 với những tài liệu và nhân chứng sống là điều kiện thuận lợi giúp các nhà nghiên cứu một cách công phu và chân thực. vắng bóng trong các chương trình giảng dạy? Khi lịch sử được dựng lên bởi sự không minh bạch sẽ để lại những di họa khôn lường. Giả dối và bóp méo lịch sử không chỉ làm cho một dân tộc bị khủng khoảng niềm tin mà còn gây ra lòng căm thù, không có sự cảm thông giữa các dân tộc mỗi khi sự giả dối bị bóc trần. Lâu nay chúng ta thường cho rằng thái độ thù ghét của người dân các nước Đông Âu đối với Liên Xô và chế độ cộng sản từng được ngợi ca trên chính quê hương của họ là quá thái, thậm chí bị xem là “bắn đại bác vào quá khứ”. Tuy nhiên, nếu chúng ta biết rằng chỉ ngay sau khi đánh bại chủ nghĩa phát xít Đức, hồng quân Liên Xô tái hiện hình ảnh tàn bạo của kẻ thù mà họ vừa đánh bại - đơn cử, tại Đông Đức từ 1945-1947, ngoài việc người dân bị chiếm đoạt tài sản, hồng quân Liên Xô đã hãm hiếp khoảng 2 triệu phụ nữ [2]-chúng ta sẽ dễ dàng nhận biết một trong những lý do tại sao Liên Xô sụo đổ, tại sao người cộng sản bị thù ghét ở Đông Âu đến như vậy.

Lịch sử của đất nước, dù có đau thương hay tủi nhục biết bao cũng cần phải học, huống hồ một đất nước có truyền thống lịch sử đáng tự hào như Việt nam. Nhưng tại sao, môn sử trở nên một môn học miễn cưỡng? Đành rằng giữa Mỹ và Việt Nam có nhiều điều khác biệt, nhưng chúng ta không thể vin vào nhiều lý do, chẳng hạn như khác biệt về cấu trúc chính trị xã hội để giải thích cho sự khác biệt về mặt truyền bá kiến thức. Lịch sử hay bất kỳ ngành khoa học nào cũng hướng đến một chân lý tối thượng: khám phá và phản ánh sự thật.

Nghiên cứu sử học là một con đường tìm thấy tương lai từ quá khứ! Đã đến lúc, sử học cũng cần có một chính sách “cởi trói” như văn học dưới thời tổng bí thư Nguyễn Văn Linh. Nếu không chúng ta sẽ không bao giờ tìm thấy một tương lai tươi sáng từ quá khứ giàu có nhưng bị dạy, học và lãnh đạo rất nghèo nàn.

26.7.2011.VCH

[1] Minh Giảng, “Điểm Thi Môn Sử Thấp Không Ngờ,” http://tuoitre.vn/Tuyensinh/Tuyen-sinh/448241/Diem-thi-mon-su-thap-khong-ngo.htm.

[2] John Lewis Gaddis, the Cold War: A New History (Penguin Book, 2005), 24.

Nguồn:nhathonguyentrongtao.wordpress.com

HÀNG NGÀN ĐIỂM 0.


Ông Bộ Trưởng Giáo dục & Đào tạo trả lời báo chí:

“Ông nghĩ gì khi kỳ thi ĐH vừa rồi cũng giống như nhiều năm trước, môn sử có hàng ngàn điểm 0?


+ Tôi nghĩ bình thường. Vì thi ĐH là cuộc thi tuyển nên đề thi có sự phân loại rõ ra người giỏi, người khá, người yếu kém để tuyển chọn.

. Thưa Bộ trưởng, dư luận xã hội đặt câu hỏi phải chăng có vấn đề trong giáo dục môn học này?

+ Cần phải bình tĩnh để nhìn nhận vấn đề một cách toàn diện. Bây giờ hô hào các cháu phải học ngoại ngữ, học tin học… thì có những môn như lịch sử và cả văn học bị xem nhẹ hơn chút cũng đừng coi là thảm họa. Mình cần điều chỉnh nhưng đừng quy kết là chú trọng đẩy cái này để sao nhãng cái kia.
Các bạn hãy nhìn rộng ra nhiều nước trên thế giới này, không chỉ ở Việt Nam có hiện tượng này. Vì tiếng nói của khoa học lịch sử trong cuộc sống hiện đại hôm nay ít, cơ hội tìm việc làm của những người giỏi sử ít. Nhìn kỹ một chút các bạn sẽ thấy môn lịch sử kém thu hút, điểm lịch sử thấp không phải chỉ ở Việt Nam, ở châu Á. Đó là chuyện của thời đại, của thế hệ này, do cách mạng khoa học công nghệ, do sự biến đổi, đòi hỏi của thị trường lao động”.

Ông Bộ trưởng trả lời như một người ngoài cuộc bàng quan nhất.Theo cách nghĩ của ông,thế tất cả những nước tiên tiến hiện nay như Na Uy,Thụy Điển,Mỹ,Singapore,Nhật bản… đều có chất lượng giáo dục môn sử tệ hại như thế.Vì rõ ràng rằng,ở những đất nước này,nhu cầu cũng như khả năng kiếm việc làm trong những lĩnh vực kỹ thuật cao rất lớn.Do vậy họ không cần biết họ là ai,đất nước họ là thế nào…Và họ cũng không thể giới thiệu ra thế giới những thành quả văn hóa mà dân tộc họ,đất nước họ sở hữu…Nhưng đừng quên rằng chính nhờ niềm tự hào dân tộc qua từng trang sử đất nước đã thôi thúc dân Nhật tái thiết đất nước từ đống hoang tàn đổ nát sau Đệ Nhị thế chiến,để 15 năm sau họ đã trở lại vai trò một cường quốc trên lĩnh vực kinh tế.

Lịch sử là một trong những môn học làm người.Và đó là trách nhiệm của hệ thống giáo dục.Không ai làm thay vai trò chủ đạo của ngành giáo dục trong lĩnh vực này được.Các môn Tin học, Ngoại ngữ cũng rất quan trọng,nhưng không thể quan trọng hơn lịch sử.Anh không biết anh là ai,đất nước anh là thế nào thì đừng yêu cầu chúng tôi phải tôn trọng anh.Nếu một nền giáo dục không chú trọng Văn,Sử,Giáo dục công dân thì đó là một nền giáo dục vong bản.

Đổi mới phương pháp giảng dạy lịch sử là một đòi hỏi tất yếu.Và hơn ai hết,là Bộ Trưởng Giáo dục,ông Phạm Vũ Luận phải là tư lệnh của công cuộc đổi mới giáo dục nói chung,và phương pháp giảng dạy nói riêng.Làm sao cho học sinh tự suy luận và rút ra những bài học lịch sử (dù ở dạng ngây thơ hồn nhiên nhất) là cách đưa môn sử trở lại với học đường.Thu được bao nhiêu súng trong một trận đánh không quan trọng bằng trận đánh ấy có ý nghĩa gì.

“Nghề sử là ngụ ngôn chứ không phải tri thức chính xác. Nếu cần biết ông này đẻ ngày nào, trận đánh này tiêu diệt bao nhiêu quân địch… chỉ cần mở máy tính là ra. Cái quan trọng là ý nghĩa sâu xa của mỗi sự kiện lịch sử. Có hai thuộc tính quan trọng của lịch sử là sự trung thực và sự công bằng. Chúng ta có thực sự công bằng trong giáo dục lịch sử không? Nếu thực sự có sự trung thực, công bằng thì lịch sử sẽ hấp dẫn hơn, học sinh học sử sẽ thích hơn. Nếu chỉ nói mãi những điều các em chưa tin thì các em chỉ là khổ sai khi nhớ.
Nước Mỹ học sử thảo luận là chính. Học sinh phải tìm xem trong sự kiện thầy dạy có ý nghĩa gì, tích cực, tiêu cực ra sao… Từ đó các em có phương pháp tư duy. Ta cần xem lại quan niệm về học sử. Đương nhiên đừng có sự đảo lộn quá lớn, cái gì cũng phải có lộ trình”
.(Dương Trung Quốc – Nhà sử học)

Nếu giờ này ông Luận còn nói phải bàn,có nghĩa rằng ông chưa được chuẩn bị để làm bộ trưởng.