Thứ Bảy, 20 tháng 8, 2011

BẤT LỰC VÀ CỰC KHOÁI.


Quan Ngân khố Tổng quản đại thần nước Vệ, nhân buổi nhàn đàm sau ngày nhiệm chức, trước sự chất vấn của vô số kẻ rách việc cứ xía vô công việc của ngài, bèn tuyên bố rằng: “Định hướng lâu dài lãi suất tiền gửi không thể thực dương, vì điều đó là vô lý…Thiệt ra ở các nước, người dân mở tài khoản, ngân hàng giữ hộ tiền,chứ ngân hàng không phải là kênh đầu tư…Nếu dân muốn kinh doanh vốn, phải đầu tư ở thị trường chứng khoán…”

Ý hẳn ngài đang bị xoay về việc mức lãi suất tiền gửi tiết kiệm bị khống chế mãi ở mức 14%, trong khi chỉ số lạm phát so với cùng kỳ đã trên 20%, so với cuối năm 2010 là trên 17%.Có nghĩa là người dân càng gửi càng lỗ vì cái lạm phát đang đà phi mã bên cái lãi suất đang bị ghìm cương.

Và có nghĩa là ngài cáu.ĐM…cái việc kềm hãm lạm phát đang là một impossible mission (nhiệm vụ bất khả thi) mà cứ bảo phải kiếm lãi từ kiền gửi tiếc kiệm thì có khác nào bảo thằng chồng impotent (bất lực) làm cho vợ orgasm (cực khoái).

Tuy nhiên,bất lực cũng có nhiều thể.Cụ tỉ là ngài (và triều đình của ngài) chỉ bất lực tâm lý (psychological impotence), bất lực với cơm, chứ phở thì …ngài không như mãnh hổ đấy chứ.Mới đây ngài định giảm lãi suất cho vay để cứu khối bất động sản thơm phưng phức đấy sao.Phải cứu net chớ.
Tuy nhiên các em út được nưng niu xứ Vệ không em nào có em nào đủ sự mắc cỡ mà than phiền như cụ tỷ phú Warren Buffett xứ Cờ Hoa: ”Hãy chấm dứt sự chiều chuộng những người siêu giàu…Tôi đề nghị giữ mức thuế thu nhập cũ cho 99.7% công dân Mỹ và giảm thêm 2% cho số tiền người làm thuê trả thuế lao động…Nhưng đối với người thu nhập hơn 1 triệu USD (0.3%) dân số) nên tăng thuế ngay đối với số tiền sau 1 triệu USD.Còn người thu nhập cao hơn 10 triệu USD thì nên chịu thuế thu nhập cao hơn.Những người bạn siêu giàu của tôi và tôi đã được Quốc – hội – thân – thiện – với – tỷ - phú này chiều chuộng đủ rồi.Bầy giờ là thời điểm để người giàu thực sự chia sẻ khó khăn một cách nghiêm túc”.

Còn con đường ngài hướng dẫn cho dân đầu tư thì hỡi ơi.Đem tiền mua rau muống.

MẸ HIỀN CHỊU HẾT NỔI RỒI.



Bác sĩ Giàu (Vũ Thư – Thái Bình) đã bị đâm chết,chưa kịp nhận sổ hưu.Bác sĩ ấy chết bởi một trọng tội,đó là tận tâm phục vụ cho một xã hội rừng rú,một giai tầng lãnh đạo vô cảm.
Đây không phải là lần đầu tiên tình trạng côn đồ tấn công thầy thuốc tại khoa cấp cứu.Rất nhiều trường hợp,mới đây là Cà mau,trước nữa là Nghệ an,Hải phòng…và còn bao nhiều trường hợp nữa chưa được nêu lên.
Khoan hãy phân tích chuyện đúng sai lỗi phải trong khi thực hành thao tác hồi sức.Chỉ nói đến trách nhiệm và sinh mệnh của người thầy thuốc khi thi hành công vụ,đúng,thi hành công vụ.
Đa phần các trường hợp tấn công thầy thuốc xảy ra ở bệnh viện tuyến huyện,nơi khoa Cấp cứu và Hồi sức tích cực,chống độc nhập chung làm một.Bác sĩ cấp cứu những cas ngưng tim ngưng thở trong vòng vây của người nhà bệnh nhân.Giống như biểu diễn tay nghề vậy.
Ở các tuyến tỉnh,trung ương,phòng Hồi sức được cách ly,có đủ phương tiện,có lực lượng bảo vệ đủ để can thiệp kịp thời.
Ở tuyến huyện,phưong tiện thiếu thốn,không có phòng cách ly,không có lực lượng bảo vệ.Người thầy thuốc gần gũi dân đến nỗi có thể bị đâm chết bất cứ lúc nào.
Xã hội ngày càng phức tạp.Tình trạng xã hội đen thanh toán nhau,đưa đến bệnh viện,rồi đe dọa hành hung bác sĩ ,rượt đuổi đâm chém nhau trong bệnh viện.Ai là người bảo vệ sự an toàn cho người thầy thuốc?



Tất nhiên quý vị lãnh đạo bệnh viện,lãnh đạo chính quyền rất chi là đạo đức sẽ lên giọng thuyết giảng,nào là bình tĩnh giải thích cho người nhà bệnh nhân,nào là tích cực chăm sóc,không lơ là thiếu tinh thần trách nhiệm.Xin mới quý vị xuống trực một đêm.Một tua trực cấp cứu chỉ có 3 người,1 bác sĩ và 2 điều dưỡng.Trước tình trạng bệnh nhân ngưng tim ngưng thở,lo ấn tim,tìm vein tiêm thuốc còn không kịp.Miệng đâu mà đi giải thích.Tất nhiên có vị giải thích rất khéo,tập trung giải thích rằng thì là bệnh rất nặng,chúng tôi đã cố gắng hết sức,đã lăng xăng,đã rối rít,đã huy động điện nước,bảo vệ,lái xe….nhưng không cứu được.Trong khi đó bệnh nhân không được hồi sức tích cựu,đúng phương pháp.Bác sĩ tập trung cứu người thì nguy cơ chết cao,bác sĩ giải thích,nguy cơ chết thấp.
Tại sao không tổ chức khoa cấp cứu đúng nghĩa,có phòng cách ly và lực lượng bảo vệ đủ để bảo vệ an toàn tính mạng cho người thầy thuốc.Phải biết một điều rằng trước tình trạng khẩn cấp,nhiệm vụ chính của người thầy thuốc là phải tập trung cứu người,đừng để họ phân tâm vào những lời giải thích.
Mình cũng từng làm HSCC 15 năm.Cũng mướt mồ hôi hồi sức bệnh nhân trong vòng vây thân nhân bệnh nhân,những tiếng chửi rủa cục cằn,những ánh mắt hằm hè cứ như là mình gây ra tai nạn giao thông cho người thân của họ,gây ra nhồi máu cơ tim cho cha mẹ họ.Vừa làm vừa liếc chừng,canh chừng…
Quý vị lãnh đạo,hãy bớt nói lời chim chóc (chữ dùng của nhà văn Nguyễn Quang Lập),mà hãy tập trung vào các biện pháp bảo vệ an toàn sinh mạng cho người thầy thuốc,nhất là những khu vực cấp cứu.Quý vị đừng đóng cửa phòng máy lạnh,rung đùi trong khi tính mệnh nhân viên mình như sợi chỉ treo chuông.

Thứ Tư, 17 tháng 8, 2011

PHIẾU TRẮNG.

Hội nghị Diên Hồng

Thì ra anh bạn giếng làng…láng giềng tập trận thiệt. Không gì phải hoắng lên. Nhiều bình lựng gia đã nhảy vào phân tích, so sánh tương quan rồi phán:Có thể nước Tề đánh ta thiệt, cũng có thể không.Có thể đánh to, cũng có thể đánh nhỏ (như cơn bão trong chén nước trà).Chỉ khổ cho nước Vệ ta phải căng sức ra trên mặt trận quốc phòng toàn dân.Tiền bạc thì thiếu lên thiếu xuống nhưng cũng phải khuân về mấy cái Kilo, mấy cái Su – 30, mấy cái Gepard…Rứa chớ cũng chưa chắc đã giữ được cái Cát Dài, nói chi đến chuyện lấy lại Cát Vàng trong nhiệm kỳ như nhà văn viễn tưởng nào mới viết đây.

Nhưng giả sử Tề uýnh ta thiệt thì răng hè? Tám mấy triệu dân nước Vệ sẽ ứng xử răng hè?
Chắc có mấy tình huống xảy ra:

Một là bảo vệ đất nước đến cùng, điều đó cũng có nghĩa là bảo vệ triều đình nước Vệ đến cùng.Đó là dạng Trần Bình Trọng.

Hai là theo Tề cho hắn khỏe, đỡ đánh đấm ngày nào hay ngày ấy, thà làm đít con trâu hơn đầu con gà..Đó là dạng Trần Ích Tắc.

Còn dạng thứ ba, chán ngán triều đình mà cũng căm ghét Tề thậm tệ, bèn đi… trốn. Mồ mả cha ông thì đã có triều đình lo, giờ có mất vào tay Tề thì triều đình chịu trách nhiệm, mình có liên đới gì mà sợ.Đó là dạng (hơi gượng ép chút) Hoàng Cự Đà trong câu chuyện chia muỗm.

Hai dạng đầu thì dễ rồi, rõ ràng rồi.Còn dạng thứ ba là dạng bỏ phiếu trắng.Hơi đâu đi lo bảo vệ tài sản của triều đình.Chính xác là thế, vì đã từ lâu, đa phần thảo dân Vệ đã hoàn thành công cuộc vô sản hóa, chỉ được quyền nộp thuế và è lưng gánh nợ cho những cú xài hoang của triều đình.Quay lưng lại hiểm họa ngoại xâm, bỏ phiếu trắng.Cũng có lý cho dạng này, vì họ có được dự phần đồng cam đâu mà bắt họ cộng khổ.

"Mộ gió" Hồ Quý Ly

Năm đó, khi mấy chục vạn quân Tề đang áp sát biên giới, mặc dù Vệ đã có Thành Đa Bang vững chãi, súng Thần Cơ oai mãnh, Tả Tướng Hồ Nguyên Trừng vẫn cười đau khổ mà rằng: "Thần không sợ đánh, chỉ sợ lòng dân không theo mà thôi" Kết quả ở Ki Lê, Thiên Cầm ra sao chắc ai cũng nhớ.

Bao nhiều phần trăm dân Vệ sẽ bỏ phiếu trắng hè?

Thứ Sáu, 12 tháng 8, 2011

LY CAFE MUỐI.

Hôm qua bàn chuyện tục, hôm nay đổi tone sang lãng mạn chút cho đời tươi. Và hỏi thật, các bác có hay nói dối người yêu không?

Tối qua Tổng Cua đứng đợi ở ga tầu điện ngầm Rosslyn (Arlington) nghe lỏm một thằng Mỹ trắng nói chuyện điện thoại di động với người yêu. Mồm hắn oang oang “I love you so much. I miss you – anh yêu em lắm lắm, anh nhớ em. Anh muốn nói chuyện với em mãi mãi, nghe giọng em ngọt ngào”, lọt vào tai mình, dù không muốn nghe.

Có vẻ nhắc đi nhắc lại mãi “lời muôn thưở”, hắn bắt đầu chán và bảo “Thôi, em hang up – cúp máy trước đi”. Thằng cha gallant, muốn người yêu bỏ máy trước. Nhưng hình như đầu bên kia cũng muốn bên này cúp máy trước vì muốn thêm giọng oanh vàng.

Lằng nhằng tới 5 phút chưa xong, cậu sốt ruột “Thôi chúng ta cùng cúp máy nhé”. Cũng không được, cu cậu lại ra mẹo khác “Hãy đếm 1, 2, 3, và tới 4 thì cúp nhé”.

Cuối cùng cũng xong. Cậu ta lầu bầu “Bloody lady…Sao mà có cái loại nói dài, nói dai, ngu và cả tin thế. Tầu chạy mẹ mất rồi”.

Hóa ra, “I love you so much. I miss you” chỉ đơn giản là những lời nói dối. Nhưng càng nói dối, cô nàng càng tin và càng quấn quýt, không muốn rời xa. Anh chàng rơi vào cái bẫy do mình tự bày đặt. Cũng may cậu thoát hiểm, dù muộn một chuyến tầu.

Không như thằng cha trong câu chuyện sau, rơi vào cái bẫy “nói dối” của chính mình trong suốt cuộc đời.

Anh gặp nàng trong một bữa tiệc. Nàng vô cùng xinh xắn và dễ thương… Biết bao chàng trai theo đuổi nàng, trong khi anh chỉ là một gã bình thường, chẳng ai thèm để ý.

Cuối bữa tiệc, lấy hết can đảm, anh mời nàng đi uống cafe. Hết sức ngạc nhiên, nhưng vì phép lịch sự nàng cũng nhận lời.

Họ ngồi im lặng trong một quán cafe. Anh quá run nên không nói được câu nào. Cô gái bắt đầu cảm thấy thật buồn tẻ và muốn đi về… Chàng trai thì cứ loay hoay mãi với cốc cafe, cầm lên lại đặt xuống.

Đúng lúc cô gái định đứng lên và xin phép ra về thì bất chợt chàng trai gọi người phục vụ: “Làm ơn cho tôi ít muối vào tách cafe”.

Gần như tất cả những người trong quán nước đều quay lại nhìn anh… Cô gái cũng vô cùng ngạc nhiên.

Nàng hỏi anh tại sao lại có sở thích kì lạ thế. Anh lúng túng một lát rồi nói: “Ngày trước nhà tôi gần biển. Tôi rất thích nô đùa với sóng biển, thích cái vị mặn và đắng của nước biển. Vâng, mặn và đắng – giống như cafe cho thêm muối vậy… Mỗi khi uống cafe muối như thế này, tôi lại nhớ quê hương và cha mẹ mình da diết.”.

Cô gái nhìn anh thông cảm và dường như nàng rất xúc động trước tình cảm chân thành của anh. Nàng thầm nghĩ một người yêu quê hương và cha mẹ mình như thế hẳn phải là người tốt và chắc chắn sau này sẽ là một người chồng, người cha tốt.

Câu chuyện cởi mở hơn khi nàng cũng kể về tuổi thơ, về cha mẹ và gia đình mình.

Khi chia tay ra về, cả hai cùng cảm thấy thật dễ chịu và vui vẻ. Và qua những cuộc hẹn hò về sau, càng ngày cô gái càng nhận ra chàng trai có thật nhiều tính tốt. Anh rất chân thành, kiên nhẫn và luôn thông cảm với những khó khăn của cô.

Như bao câu chuyện kết thúc có hậu khác, hai người lấy nhau. Họ sống rất hạnh phúc trong suốt cuộc đời. Sáng nào trước khi anh đi làm, nàng cũng pha cho anh một tách cafe muối.

Nhiều năm sau, đôi vợ chồng già đi, và người chồng ra đi trước.

Sau khi anh mất, người vợ tìm thấy một lá thư trong ngăn kéo “Gửi người con gái mà anh yêu thương nhất. Có một điều mà anh đã không đủ can đảm nói với em. Anh đã lừa dối em, một lần duy nhất trong cuộc đời. Thực sự là ngày đầu tiên mình gặp nhau, được nói chuyện với em là niềm sung sướng đối với anh. Anh đã rất run khi ngồi đối diện em. Lúc đó anh định gọi đường cho tách cafe nhưng anh nói nhầm thành muối. Nhìn đôi mắt em lúc đó, anh biết mình không thể rút lại lời vừa nói nên anh đã bịa ra câu chuyện về biển và cafe muối. Anh không hề thích và chưa bao giờ uống cafe muối trước đó. Rất nhiều lần anh muốn nói thật với em nhưng anh sợ… Anh đã tự hứa với mình đó là lần đầu và cũng là lần cuối anh nói dối em. Nếu được làm lại từ đầu, anh vẫn sẽ làm như vậy để được có em và để được uống tách cafe muối em pha hàng ngày trong suốt cuộc đời anh. Anh yêu em”.

Mắt người vợ nhòa đi khi đọc đến những dòng cuối lá thư. Bà gấp bức thư lại và chầm chậm đứng lên, đi pha cho mình một tách cafe muối.

Nguồn:hieuminh.org

Thứ Năm, 11 tháng 8, 2011

CỤ THỂ HÓA ĐIỀU 4 HIẾN PHÁP BẰNG PHÁP LUẬT.

Giáo sư Nguyễn Minh Thuyết,nguyên ĐBQH khóa XII.
Một cựu Đại biểu Quốc hội của Việt Nam vừa lên tiếng với BBC cho rằng Quốc hội khóa XIII cần cụ thể hóa việc sửa đổi Hiến pháp, trong đó có phương án sửa điều 4 về vai trò của Đảng Cộng sản.

Trao đổi với Quốc Phương, Giáo sư – Tiến sĩ Nguyễn Minh Thuyết, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh Thiếu Niên của Quốc hội, đưa ra một mô hình cải cách thể chế, theo đó Trung ương Đảng có thể trở thành Thượng nghị viện, còn Quốc hội do dân bầu ra là Hạ nghị viện.

Theo Giáo sư Thuyết, cần quy định rõ “những việc gì chỉ cần Thượng viện quyết,” “những việc gì chỉ cần Hạ viện quyết”, và “những việc gì phải có số phiếu nhất định ở Hạ viện và Thượng viện cùng quyết định” để có thể có “địa chỉ chịu trách nhiệm” cho tất cả các quyết định.

Riêng về Điều 4, liên quan tới vai trò, vị thế lãnh đạo của Đảng Cộng sản, GS Thuyết cho rằng nên soạn ra một đạo luật riêng sau khi đã sửa Hiến pháp để người dân biết được “sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản đối với xã hội ở trong khuôn khổ pháp luật nghĩa là như thế nào.”

Ông Thuyết cũng lưu ý sửa Hiến pháp là một “quy trình phức tạp và phải có trưng cầu dân ý.”
Ông Nguyễn Minh Thuyết phê phán cách thức xử án ông Cù Huy Hà Vũ

Vị cựu Đại biểu Quốc hội cũng bình luận về vụ xử phúc thẩm Tiến sĩ Luật Cù Huy Hà Vũ, cũng như phóng sự gần đây của VTV1 và quan điểm của tờ Quân Đội Nhân Dân về nội dung của các blog và ‘báo chí lề trái’ ở trong nước.

Giáo sư Nguyễn Minh Thuyết: Tôi nghĩ rằng việc kết luận ông Cù Huy Hà Vũ có tội hay không, tội đến mức nào, thì việc ấy là việc của Tòa án. Mình không tiếp xúc được đầy đủ với hồ sơ, thì mình cũng khó có thể kết luận.

Nhưng tôi phải nói đây là một vụ án vi phạm rất nhiều trình tự thủ tục tố tụng từ đầu đến cuối. Từ khi bắt ông ấy ở khách sạn, cho đến việc ra xử sơ thẩm không có tranh tụng và ra đến xử phúc thẩm thì thực chất vẫn không phải là tranh tụng. Bởi vì khi luật sư người ta đưa ra ý kiến, thì cũng phải có sự tranh luận lại. Còn bây giờ mình không tranh luận lại mà mình vẫn kết án theo ý của mình, thì tôi nghĩ cái ấy không đúng với tinh thần cải cách tư pháp.

BBC: Sau phiên xử phúc thẩm với ông Hà Vũ, giáo sư có theo dõi phóng sự 15 phút, phát tối ngày 04 tháng Tám của VTV1 về vụ án hay không?

Việc thông tin một cách chi tiết về một vụ án được dư luận trong và ngoài nước quan tâm là cần thiết. Nhưng cách thông tin của phóng sự ấy, tôi cho là không ổn.

Nhìn chung, nó nói xấu về đời tư của một người ở trong cuộc, tức là của ông Cù Huy Hà Vũ, nhiều hơn là về lý lẽ để xử ông ta. Và theo tôi, dù là bất kỳ ai, thì mình cũng không thể moi móc về đời tư của họ, hoặc mình nói những điều không liên quan gì đến bản án cả. Tôi không đồng tình. Vì như thế thất lợi nhiều hơn là có lợi.

BBC: Báo Quân Đội Nhân Dân gần đây đăng một số bài, trong đó có một bài so sánh và cho rằng thông tin ở trên các blog và báo chí “lề trái” ở trong nước là “rác rưởi,” ông nhìn nhận như thế nào về cách đặt vấn đề này của tờ báo?

Nói như thế là một cách nói vừa thiếu hiểu biết vừa rất thô lỗ, lạc hậu. Phải nói rằng mạng Internet là một tiến bộ của loài người. Rất nhiều trí thức lớn, rất nhiều nguyên thủ quốc gia có blog. Nếu bây giờ mình gọi tất cả những thông tin ấy là rác rưởi, thì các blog của các nguyên thủ quốc gia có phải là rác rưởi không?

Tôi cho là nói như thế không được. Vả lại những bài báo đó tôi có xem, tôi thấy rằng không có lập luận gì xác đáng cả. Tôi cho đấy là những bài báo đáng xấu hổ.

Cơ cấu đại biểu Quốc hội

BBC: Nay chuyển sang chủ đề về Quốc hội mới, một chủ đề Giáo sư rất quen thuộc, ông bình luận gì về cơ cấu nhân sự của Quốc hội?

Cơ cấu của Quốc hội về cơ bản phản ánh cơ cấu của dân cư. Chuyện về cơ cấu này cũng đã được tính toán kỹ qua các bước hiệp thương của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Nhưng quả thật lần này nhìn vào Quốc hội thì thấy số doanh nhân là khá lớn, tức là tới 38 vị. Còn đại diện cho giới văn học, nghệ thuật không có một ai. Một người được Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam giới thiệu ra là ông Tổng Thư ký của Liên hiệp ấy cũng không trúng cử.

Tất nhiên, quyền lựa chọn là quyền của dân thôi. Nhưng quả thật, nhìn vào cơ cấu cũng thấy có sự lệch lạc nhất định. Riêng về giới doanh nhân, một khi Việt Nam đã xác định nhiệm vụ xây dựng nền kinh tế thị trường thì doanh nhân là những nhân vật mới của xã hội. Họ là những người có nhiều đóng góp cho đất nước và do đó họ có quyền được đại diện ở trong cơ quan đại diện cao nhất của nhân dân, tức là Quốc hội.

Tuy nhiên, việc có nhiều doanh nhân cũng dễ làm cho người dân băn khoăn là: Liệu các doanh nhân này có thực sự công tâm trong những việc bàn thảo quyết định chính sách hay không? Có thực sự đóng được vai trò của người đại diện nhân dân hay không? Hay là trong lúc bàn bạc, thảo luận sẽ thiên lệch về quyền lợi của giới doanh nghiệp hoặc là về doanh nghiệp của mình?

Tôi cho rằng những sự băn khoăn ấy là những nhắc nhở đối với các đại biểu – doanh nhân. Các đại biểu – doanh nhân phải hoạt động như thế nào đó thật sự công tâm để cho người dân thấy mình thật sự vào Quốc hội là để đại diện cho quyền lợi của nhân dân, của đất nước nói chung, chứ không phải cho cái giới của mình hay cho doanh nghiệp của mình.

BBC: Trong nhiệm kỳ mới lần này của Quốc Hội, có một nội dung được quan tâm là việc sửa đổi, bổ sung Hiến Pháp, nhất là trong đó có liên quan tới Điều 4. Liệu điều này có được sửa hay không và nếu sửa thì theo Giáo sư nên sửa như thế nào, theo hướng nào?

Tôi nghĩ cái đó là quyền của các vị Đại biểu Khóa XIII này. Tôi bây giờ là cựu Đại biểu rồi, nên tôi chỉ có thể nói suy nghĩ của mình thôi. Tôi cho là lần này sửa được một cách tương đối chu tất, căn bản thì tốt hơn. Vì không phải mỗi khi muốn là chúng ta cũng có thể mang Hiến pháp ra mà sửa được. Đấy là một quá trình rất phức tạp và phải có trưng cầu dân ý.

Cho nên khi sửa, theo tôi, cũng phải tính toán để sửa làm sao cho Hiến pháp cô đọng, nhưng thể hiện được xu hướng tiến bộ của xã hội.

Còn riêng về Điều 4, tôi cho là cần phải cụ thể hóa hơn nữa, để người dân người ta cũng biết được sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản đối với xã hội ở trong khuôn khổ pháp luật nghĩa là như thế nào. Và thậm chí cũng nên cụ thể hóa bằng một đạo luật, sau khi Hiến pháp đã được sửa.

BBC: Nếu có thể cụ thể hơn nữa, Điều 4 phải được sửa chi tiết ra sao, thưa ông?

Tốt nhất sau này cần cụ thể hóa bằng một đạo luật. Tôi lấy ví dụ: hiện nay có rất nhiều việc ai cũng biết là do Trung ương Đảng quyết định, sau đó thì đưa ra Quốc hội để thể chế hóa nó bằng pháp luật.

Đại biểu Quốc hội là những người ở trong xã hội do Đảng Cộng sản VN lãnh đạo và đến 92% các Đại biểu là đảng viên Đảng Cộng sản, thì phải chấp hành chủ trương của Đảng.

Nếu như có thể nói cụ thể hơn, tôi lấy ví dụ, có thể Trung ương Đảng là Thượng nghị viện, còn Quốc hội do dân bầu ra là Hạ nghị viện. Rồi mình quy định những việc gì chỉ cần Thượng viện quyết, những việc gì chỉ cần Hạ viện quyết là được, và những việc gì phải có số phiếu nhất định ở Hạ viện và Thượng viện cùng quyết định thì mới được. Tôi nghĩ có quy định một cách rất cụ thể như thế mới có địa chỉ để chịu trách nhiệm về các quyết định. Như thế thì sẽ tốt hơn. Đấy cũng chỉ là một ví dụ thôi.

Thi hành luật

BBC: Những đạo luật, bộ luật hoặc công việc luật pháp nào kỳ này cần được ưu tiên xây dựng, ban hành và công bố, theo Giáo sư?

Nếu nói về hệ thống pháp luật, theo tôi cho đến nay tương đối là đầy đủ. Còn về các quy định của luật cũng đã có những quy định cụ thể, nhưng vẫn còn nhiều quy định chung chung. Trong quá trình xem xét các đạo luật sắp tới, cũng phải sửa làm sao để cho các quy định của luật cụ thể hơn, dễ thực hiện hơn.

Nhưng tôi quan tâm nhiều hơn đến việc thi hành luật. Vì thực ra cái yếu nhất ở Việt Nam không phải là thiếu các quy định về pháp luật mà là quy trình, quá trình thi hành luật không được nghiêm túc.

Thứ nhất, nhiều khi luật đã ra rồi, nhưng các văn bản hướng dẫn thực hiện luật, tức là các nghị định của Chính phủ và thông tư của các Bộ lại chưa kịp ra, thì luật ấy chưa thi hành được. Điều ấy hoàn toàn không đúng. Vì luật đã ra rồi, đến thời hạn có hiệu lực pháp luật rồi, thì phải được thi hành. Và lúc ấy phải có đầy đủ các văn bản hướng dẫn, còn nếu không, cứ theo luật mà thi hành.

Thứ hai, kể cả khi có nghị định, thông tư rồi, thì việc thi hành luật cũng không được nghiêm chỉnh. Và những người vi phạm luật không phải lúc nào cũng phải chịu chế tài theo đúng quy định của luật. Tôi cho rằng nếu pháp luật đã được ban hành rồi mà không thực thi nó một cách nghiêm chỉnh, dần dần nó sẽ bào mòn thể chế của Nhà nước đi. Và như thế không đảm bảo được sự điều hành của Nhà nước và không đảm bảo được quyền dân chủ của người dân. Đấy là điều đáng quan tâm hơn.

BBC: Là người trực tiếp tham gia nhiều hoạt động và công việc của Quốc hội trong một thời gian dài qua các khóa trước, ông có thể so sánh thế nào về sự lãnh đạo qua các nhiệm kỳ liên quan tới các vị cựu Chủ tịch Quốc hội?

Về cảm tình cá nhân, có thể nói tôi rất có cảm tình với cách điều hành của ông Chủ tịch Nguyễn Văn An. Ông An rất sắc sảo và rất linh hoạt, thường ông cũng rất hay có những ý kiến chêm vào các buổi thảo luận và chất vấn. Những ý kiến đó rất xác đáng. Và qua các ý kiến của ông An, Đại biểu Quốc hội cũng học hỏi được rất nhiều.

Thế còn các vị khác, mỗi người một phong cách. Theo tôi, phong cách của ông Chủ tịch là điều đáng để ý, nhưng thực sự nó không có ảnh hưởng lớn tới chất lượng hoạt động của Quốc hội lắm đâu. Quan trọng là bản thân các Đại biểu như thế nào.

Tôi lấy ví dụ như là Khóa XI, Chủ tịch Nguyễn Văn An là một vị Chủ tịch rất sắc sảo, năng động. Nhưng người dân có vẻ đánh giá kết quả hoạt động của Quốc hội khóa XII cao hơn. Và tôi nghĩ người ta đánh giá cao hơn cũng có lý. Bởi vì khóa sau rút được kinh nghiệm thì phải làm tốt hơn khóa trước. Một số kinh nghiệm mà các đại biểu đã được ông Chủ tịch Quốc hội khóa trước là Nguyễn Văn An huấn luyện, có thể đến khóa sau mới được vận dụng. Đấy cũng là những điều đóng góp làm cho khóa sau tốt hơn.

Tóm lại, tôi cho rằng mỗi vị lãnh đạo có phong cách riêng của mình. Nhưng quan trọng nhất là các đại biểu hoạt động như thế nào và tôi cũng mong là Quốc hội Khóa XIII này sẽ có một bước tiến xa hơn trong việc hoàn thành trách nhiệm của mình trước người dân.

Nguồn:BBC Vietnamese

Thứ Tư, 10 tháng 8, 2011

KHẾ ƯỚC XÃ HỘI.



Đôi lời giới thiệu:

“Khế ước xã hội“ và “Tinh thần pháp luật” như là cặp anh em song sinh làm nền tảng cho nền cộng hòa. Chúng ta ước mong Quốc hội khóa XIII sẽ cải cách Hiến pháp 1992 để tạo nên một Hiến pháp 2011 “dân chủ gấp triệu lần tư sản”, như ngày xưa các lãnh tụ Cộng sản đã tuyên bố thì sướng lắm thay!


Jean Jacques Rousseau (1712-1778)

Khế ước xã hội (Contract Social)

Jean Jacques Rousseau (1712-1778) viết ra Khế ước xã hội và C.Montesquieu (1689-1755) viết Tinh thần pháp luật vào thế kỷ 18 – thế kỷ Ánh sáng Pháp.

Hai vị được gọi là hai nhà lập pháp của Cách mạng tư sản Pháp, cha đẻ của nền cộng hòa.

“Khế ước xã hội” nghĩa là “Bản hợp đồng xã hội” được ký giữa Nhân dân (bên A) và chính quyền (bên B).

Contract social


Khế ước xã hội trong triết học và chính trị học là một học thuyết mô tả việc con người cùng thỏa thuận từ bỏ trạng thái tự nhiên để xây dựng cuộc sống cộng đồng. Về mặt luật pháp, khế ước xã hội thể hiện cụ thể là một tờ khế ước (tức là một bản hợp đồng) trên đó các thành viên xã hội thống nhất các nguyên tắc để cùng chung sống với nhau.

Lý thuyết về khế ước xã hội lần đầu tiên được nhà triết học chính trị Anh Thomas Hobbes (1588 – 1679) đưa ra khi ông cho rằng con người ban đầu vốn sống ở trạng thái tự nhiên, trong tình trạng vô chính phủ, khi chưa hề có sự cưỡng bức có tổ chức lên mỗi cá nhân. Con người, qua khế ước xã hội, từ bỏ những quyền tự do tự nhiên của mình để được hưởng sự an toàn và trật tự của xã hội văn minh.

Theo Hobbes, con người sơ khai sống thành bầy đàn để cùng chống lại các kẻ thù, nhưng không có gì ràng buộc giữa họ. Quyền sở hữu không tồn tại dẫn đến chuyện tất cả mọi người đều có thể sở hữu tất cả mọi vật. Leviathan, hay trạng thái tự nhiên của loài người cũng là tên tác phẩm để đời của Hobbes, mô tả chính xác một sự hỗn độn vô chính phủ mà theo đó vì xã hội chưa công nhận rạch ròi thế nào là sở hữu cho nên mọi người có thể sẵn sàng gây chiến với người khác để giành lấy cái mình muốn. Xã hội Leviathan, tuy là xã hội tự do tuyệt đối, nhưng chẳng đem lại lợi ích cho bất kỳ ai kể cả kẻ mạnh, vì con người dù mạnh đến đâu cũng không thể đơn độc làm theo ý mình được. Con người buộc phải hy sinh một phần tự do để có thể chung sống với nhau trong hòa bình. Nói cách khác con người buộc phải thống nhất với nhau những nguyên tắc cộng đồng để tránh phải sống nơm nớp trong nỗi lo sợ bảo vệ tính mạng và những gì mình có.

Lý thuyết về khế ước xã hội được John Locke nhà triết học Anh kế thừa và phát triển. Locke xây dựng chi tiết cụ thể từng giai đoạn phát triển từ trạng thái tự nhiên dẫn đến sự hình thành nhà nước qua khế ước xã hội và đi đến quan điểm về chủ quyền của nhân dân đối với nhà nước dù cho đó là nhà nước chuyên chế. Được biết đến trước hết là một nhà triết học theo trường phái duy nghiệm (empiric), Locke cũng là một tư tưởng gia xuất sắc trên lĩnh vực chính trị và xã hội. Locke cố gắng giải thích trước hết quyền sở hữu được con người định nghĩa với nhau thông qua các thỏa hiệp. Bắt đầu từ việc chiếm hữu bằng sức mạnh, con người dần dần tìm cách sở hữu bằng lao động. Một khi vấn đề sở hữu được giải quyết, con người đã có đủ các tiền đề cần thiết để đi đến các thỏa hiệp cao hơn về cuộc sống cộng đồng. Khế ước xã hội chính là bản thỏa hiệp của các thành viên cộng đồng, theo đó một con người sẽ từ bỏ quyền tự do tự nhiên – đổi lại anh ta trở thành một thành viên, được cộng đồng che chở và công nhận. Đối với một quốc gia, nhà nước là tập hợp những người đại diện đứng ra bảo đảm sự tôn trọng bản thỏa ước.

Jean-Jacques Rousseau tiếp tục đi xa hơn khi cho rằng quyền lực phải được trao cho những người đại diện cho ý chí nguyện vọng của quần chúng. Trong tác phẩm “Du Contrat Social”(Khế ước xã hội) Rousseau, tiếp nối tư tưởng của Hobbes, đã mô tả quá trình hình thành các thỏa ước xã hội: một quá trình mà sức mạnh bắt đầu nhường chỗ cho định chế, lực (forces) nhường chỗ cho quyền (hay quyền lực: pouvoir, power). Chính trị ra đời như một nhu cầu tất yếu của loài người để tổ chức xã hội. Đối với một đất nước, Hiến pháp chính là bản Khế ước xã hội cơ bản nhất, nền tảng cho tất cả các thỏa ước khác của cộng đồng. Thông qua hiến pháp, con người chính thức đánh đổi quyền tự do tự nhiên để trở thành một công dân, chính thức đánh đổi một phần quyền tự do quyết định của mình vào tay một số người cầm quyền (và do đó anh ta trở thành người bị trị) để có được sự che chở của xã hội, đại diện bởi luật pháp. Để cho bản hợp đồng trao đổi này được công bằng, trong Khế ước xã hội cần phải định rõ nguyên tắc lựa chọn người cầm quyền. Nguyên tắc bình đẳng thể hiện ở chỗ ai cũng có thể lên nắm quyền miễn là được đa số thành viên ủng hộ. Về phía người cầm quyền, đối trọng với quyền lực anh ta có, là những ràng buộc về mặt trách nhiệm với cộng đồng. Nếu người cầm quyền không hoàn thành trách nhiệm của mình, bản hợp đồng giữa anh và cộng đồng bị coi như vô hiệu, và cộng đồng phải có quyền tìm ra một người thay thế mới.

Chính những ý tưởng này đã châm ngòi cho cả cuộc Cách mạng Pháp và Mỹ. Thomas Jefferson, một trong những người là Cha đẻ của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ và bản Tuyên ngôn Độc lập tiếp tục hoàn thiện lý thuyết khi cho rằng quyền tự nhiên của con người phải là một phần của khế ước xã hội và quyền lực của nhà nước chỉ có thể thực hiện khi xuất phát từ sự đồng thuận của chính những người bị trị.

Nhìn chung, khế ước xã hội thường được nhìn nhận dưới góc độ một xã hội, một quốc gia. Tuy nhiên tư tưởng về khế ước xã hội không hề bị giới hạn ở đó. Chỉ cần có hai người là đã có thể cho ra đời một bản thỏa ước (giữa họ). Doanh nghiệp chính là một trường hợp khác vận dụng tinh thần khế ước. Bản điều lệ doanh nghiệp chính là khế ước xã hội giữa những người góp vốn. Điều lệ doanh nghiệp quy định sự tồn tại, nguyên tắc hoạt động của doanh nghiệp, quyền lợi và nghĩa vụ của các thành viên. Giám đốc doanh nghiệp là người đại diện cho doanh nghiệp cũng như Chủ tịch nước là người đại diện cho đất nước, tuy rằng hai bản khế ước này không có cùng quy mô như nhau. Quan điểm chúng ta thường gặp là coi giám đốc doanh nghiệp cũng giống như nhân viên doanh nghiệp. Ông ta bị ràng buộc với doanh nghiệp bằng một hợp đồng lao động và được trả lương cao hơn vì công việc quản lý xứng đáng được trả lương cao hơn. Quan điểm này vấp phải một rào cản vô cùng lớn trong hệ thống luật các nước phát triển, nhất là luật của nước cộng hòa Pháp, quê hương của Rousseau. Khi Tổng thống phạm sai lầm, người ta không sa thải tổng thống như ban quản trị doanh nghiệp sa thải giám đốc. Nếu tinh thần bình đẳng được tôn trọng, nhà nước cũng là một pháp nhân như doanh nghiệp và do đó cần phải có những định chế đặc biệt đối với giám đốc doanh nghiệp trong trường hợp ông ta không thực hiện được bản hợp đồng của mình.

Nguồn:giangnamlangtu.wordpress.com



TAM QUYỀN PHÂN LẬP


Charles Montesquieu (1689-1755).

Đôi lời

Nhân dịp Quốc hội khóa XIII đang bàn việc cải cách Hiến pháp, Giang Nam lãng tử xin giới thiệu một tài liệu gốc vắn tắt của chế độ Pháp quyền. Điều hay nhất mà tôi tâm đắc từ công trình vĩ đại của giới trí thức Pháp, Anh và Mỹ là CHỐNG TẬP TRUNG QUYỀN LỰC. Quyền lực cần phải được phân các nhánh độc lập (chiều ngang) và xác định quyền lực độc lập từ trên xuống dưới (chiều dọc). Mọi quyền lực đều bị ràng buộc với nhau và chỉ tuân theo pháp quyền !

Thuyết “Tam quyền phân lập” được hình thành từ thời cổ đại Hi Lạp, đến thế kỷ 18 Pháp, được hoàn thành trong luận văn “Tinh thần pháp luật” (L’Esprit de loix) của Charles Montesquieu

Chân lý thực là giản dị, hệ thống quyền lực như một tấm vải cần có sợi ngang sợi dọc thì mới bền chắc. Không có một sợi vải đặc biệt nào có khả năng làm chủ được tấm vải ấy. Chỉ có Nhân dân mới giữ quyền lực cao nhất, phán xét và định đoạt cả ba quyền.

Kính gửi quý vị đại biểu quốc hội khóa XIII và bạn đọc quan tâm.



" Tam quyền phân lập " là nội dung của luận văn " Tinh thần pháp luật "


THUYẾT TAM QUYỀN PHÂN LẬP

(từ cổ đại đến hiện đại)

1. Quá trình hình thành

2. Nhận xét

3. Nội dung cơ bản

Tam quyền phân lập (nghiã là phân chia quyền lực ra ba nhánh độc lập) là một khái niệm đã được biết đến từ lâu nhờ sự xuất hiện của các bản Hiến pháp Tư sản, trong đó nổi bật là Hiến pháp Hoa Kỳ. Các quy định trong những bản hiến pháp tạo cơ sở thừa nhận sự tồn tại độc lập, kiềm chế lẫn nhau giữa 3 cơ quan: lập pháp, hành pháp, tư pháp và được tổ chức song song với nhau, và qua đó kiểm tra, giám sát hoạt động lẫn nhau. Theo thể chế này, không một cơ quan nào có quyền lực tuyệt đối trong sinh hoạt chính trị của quốc gia.

Khái niệm này lần đầu được đưa ra bởi nhà nghiên cứu chính trị người Pháp tên Charles de Seconda, tức là Nam tước de Montesquieu. Khái niệm tam quyền phân lập sau này được mở rộng cho cơ chế điều hành đất nước với nhiều hơn hay ít hơn ba nhánh cầm quyền.

1. Quá trình hình thành

Thuyết tam quyền phân lập xuất hiện lần đầu tiên bởi nhà bác học vĩ đại của Hy Lạp Aristote. Theo Aristote, nhà nước quản lý xã hội bằng 3 phương pháp: luật pháp, hành pháp và phân xử.

Aristote cho rằng, không có loại hình chính phủ nào là duy nhất có thể phù hợp với tất cả các thời đại và các quốc gia. Ông phân chính phủ theo tiêu chuẩn số lượng (số người cầm quyền) và chất lượng (mục đích của sự cầm quyền) . Kết hợp 2 mặt đó, các chính phủ có thể xếp theo 2 loại: chân chính (quân chủ, quý tộc, cộng hoà) và biến chất (độc tài, quán đầu, dân trị)

Bên cạnh Aristote, bàn về thuyết ”tam quyền phân lập” còn có John Locke (1632–1704) là nhà triết học, nhà hoạt động chính trị người Anh. Theo ông, quyền lực của nhà nước là quyền lực của nhân dân. Nhân dân nhường một phần quyền của mình cho nhà nước qua khế ước. Để chống độc tài phải thực hiện sự phân quyền. Kế thừa tư tưởng phân quyền của Aristote, Locke cho rằng, quyền lực phải phân chia theo 3 lĩnh vực: lập pháp, hành pháp và liên hợp.

Đến thế kỷ 18, nhà tư tưởng vĩ đại người Pháp Montesquieu, đã phát triển thuyết tam quyền phân lập trở thành một học thuyết độc lập. Tiếp thu và phát triển tư tưởng về thể chế chính trị tự do, chống chuyên chế, Mongtesquieu xây dựng học thuyết phân quyền với mục đích tạo dựng những thể chế chính trị, đảm bảo tự do cho các công dân.

Theo ông, tự do chính trị của công dân là quyền mà người ta có thể làm mọi cái mà pháp luật cho phép. Pháp luật là thước đo của tự do. Cũng như Aristote và J.Locke, Montesquieu cho rằng, thể chế chính trị tự do là thể chế mà trong đó, quyền lực tối cao được phân thành 3 quyền: lập pháp, hành pháp và tư pháp.

* Lập pháp: biểu hiện ý chí chung của quốc gia . Nó thuộc về toàn thể nhân dân, được trao cho Hội nghị đại biểu nhân dân: Quốc hội

* Hành pháp: thực hiện luật pháp đã được thiết lập.

* Tư pháp: trừng trị tội phạm và giải quyết sự xung đột giữa các cá nhân. Các thẩm phán được lựa chọn từ dân và xử án chỉ tuân theo pháp luật.

Tư tưởng phân quyền của Mongtesquieu là đối thủ đáng sợ của chủ nghĩa chuyên chế phong kiến và có thể khẳng định ông là người đã phát triển và hoàn thiện thuyết: “tam quyền phân lập”. Học thuyết về sự phân chia quyền lực gắn liền với lí luận về pháp luật tự nhiên đã đóng vai trò quyết định trong lịch sử đấu tranh của giai cấp tư sản chống lại sự độc đoán, chuyên quyền của nhà vua

Cùng với sự hình thành chế độ tư bản, nguyên tắc “phân chia quyền lực” đã trở thành một trong những nguyên tắc chính của chủ nghĩa lập hiến tư sản, lần đầu tiên được thể hiện trong các đạo luật mang tính hiến định của cuộc Cách mạng Pháp và sau đó thể hiện đầy đủ trong Hiến pháp Hoa Kỳ 1787. Học thuyết pháp luật- chính trị (thuyết “phân quyền”) với quyền lực nhà nước được hiểu không phải là một thể thống nhất, mà là sự phân chia thành 3 quyền: quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, các quyền này được thực hiện độc lập với nhau, kiểm soát lẫn nhau, kiềm chế lẫn nhau. Trên thực tế, việc phân chia quyền lực trong bộ máy nhà nước được áp dụng khác nhau trong hệ thống các nước cộng hoà tổng thống, theo nguyên tắc “kiềm chế và đối trọng”, tức là các quyền kiểm tra và giám sát lẫn nhau, tạo ra sự cân bằng giữa các quyền.

2. Nhận xét

Trước khi có chế độ dân chủ tư sản, mọi quyền lực nhà nước đều tập trung vào trong tay một cá nhân. Chính đây là căn nguyên cho mọi hành vi độc tài, chuyên chế của các công việc nhà nước. Vì vậy, muốn chống chế độ này, một lý thuyết của nhiều học giả tư sản đã được nêu ra, đó là thuyết phân chia quyền lực.

Cội nguồn của tư tưởng phân quyền đã có từ thời cổ đại ở Phương Tây mà điển hình là nhà nước Athens và cộng hòa La Mã. Tư tưởng phân quyền trong xã hội Hy Lạp cổ đại đã có mầm mống từ Aristote. Ông đã quan niệm rằng trong bất kỳ nhà nước nào cũng cần phải có những yếu tố bắt buộc: cơ quan làm ra luật có trách nhiệm trông coi việc nước, các cơ quan thực thi pháp luật và các tòa án, từ đó ông chia hoạt động nhà nước thành ba thành tố: nghị luận, chấp hành và xét xử. Tuy nhiên, tư tưởng của Aristote mới chỉ dừng ở việc phân biệt các lĩnh vực hoạt động của nhà nước, chứ chưa chỉ rõ phương thức vận hành cũng như mối quan hệ bên trong giữa các thành tố đó.

Những tư tưởng phân quyền sơ khai trong thời cổ đại được phát triển thành học thuyết ở Tây Âu vào thế kỷ 17 – 18, gắn liền với hai nhà tư tưởng lớn là John Locke và C.L. Montesquieu.

John Locke (1632 – 1704), một nhà triết học người Anh, ông là người đầu tiên khởi thảo ra thành hệ thống lý luận hoàn chỉnh về học thuyết phân quyền, và được thể hiện trong tác phẩm “Khảo luận thứ hai về Chính quyền”. Về quyền lực nhà nước, ông cho rằng “chỉ có thể có một quyền lực tối cao, là cơ quan lập pháp, mà tất cả các quyền lực còn lại là, và phải là, những cái phụ thuộc vào nó”. Theo đó, có thể thấy Locke đồng nhất quyền lực nhà nước với quyền lập pháp.

Ông chia quyền lực nhà nước thành các phần: lập pháp, hành pháp và liên minh. Theo đó, quyền lập pháp là quyền lực cao nhất trong nhà nước, và phải thuộc về nghị viện; nghị viện phải họp định kỳ thông qua các đạo luật, nhưng không thể can thiệp vào việc thực hiện chúng. Quyền hành pháp phải thuộc về nhà vua. Nhà vua lãnh đạo việc thi hành pháp luật, bổ nhiệm các chức vị, chánh án và các quan chức khác. Hoạt động của nhà vua phụ thuộc vào pháp luật và vua không có đặc quyền nhất định nào với nghị viện nhằm không cho phép vua thâu tóm toàn bộ quyền lực về tay mình và xâm phạm vào các quyền tự nhiên của công dân. Nhà vua thực hiện quyền liên minh, tức là giải quyết các vấn đề chiến tranh, hòa bình và đối ngoại.

Những luận điểm phân quyền của J.Locke đã được nhà khai sáng người Pháp, C.L. Montesquieu (1689 – 1775) phát triển. Montesquieu đã phát triển một cách toàn diện học thuyết phân quyền, và sau này khi nhắc tới thuyết phân quyền người ta nghĩ ngay đến tên tuổi của ông.

Montesquieu kịch liệt lên án chế độ quân chủ chuyên chế ở Pháp lúc bấy giờ. Chế độ quân chủ chuyên chế là một tổ chức quyền lực tồi tệ, phi lý, vì: nhà nước tồn tại vốn biểu hiện của ý chí chung, nhưng trong chế độ chuyên chế nó lại biểu hiện ý chí đặc thù; chế độ chuyên chế với bản chất vô pháp luật và nhu cầu pháp luật. Montesquieu nhận thấy pháp luật gồm nhiều lĩnh vực, phân ngành rõ rệt, cho nên tập trung vào một người duy nhất là trái với bản chất của nó; gắn với bản chất chế độ chuyên chế là tình trạng lạm quyền. Vì vậy việc thanh toán hiện tượng lạm quyền chỉ có thể là đồng thời, là sự thanh toán chế độ chuyên chế. Theo Montesquieu, một khi quyền lực tập trung vào một mối, kể cả một người hay một tổ chức, thì nguy cơ chuyên chế vẫn còn.

Trong tác phẩm “Tinh thần pháp luật” (The Spirit of Law), Montesquieu đã lập luận tinh tế và chặt chẽ tính tất yếu của việc tách bạch các nhánh quyền lực và khẳng định: “Trong bất cứ quốc gia nào đều có ba thứ quyền: quyền lập pháp, quyền thi hành những điều hợp với quốc tế công pháp và quyền thi hành những điều trong luật dân sự.” Ta có thể nhận ra sự tiến bộ trong tư tưởng phân quyền của Montesquieu so với tư tưởng của Locke, khi tách quyền lực xét xử – quyền tư pháp ra độc lập với các thứ quyền khác.

Từ đó, Montesquieu chủ trương phân quyền để chống lại chế độ chuyên chế, thanh toán nạn lạm quyền, để chính quyền không thể gây hại cho người bị trị và đảm bảo quyền tự do cho nhân dân. Montesquieu đã viết: “Khi mà quyền lập pháp và hành pháp nhập lại trong tay một người hay một Viện Nguyên Lão, thì sẽ không có gì là tự do nữa, vì người ta sợ rằng chính ông ta hoặc viện ấy chỉ đặt ra những luật độc tài để thi hành một cách độc tài. Cũng không có gì là tự do nếu như quyền tư pháp không tách rời quyền lập pháp và hành pháp. Nếu quyền tư pháp được nhập với quyền lập pháp, thì người ta sẽ độc đoán với quyền sống, quyền tự do của công dân; quan tòa sẽ là người đặt ra luật. Nếu quyền tư pháp nhập lại với quyền hành pháp thì quan tòa sẽ có cả sức mạnh của kẻ đàn áp. Nếu một người hay một tổ chức của quan chức, hoặc của quý tộc, hoặc của dân chúng, nắm luôn cả ba thứ quyền lực nói trên thì tất cả sẽ mất hết.”

Tóm lại, theo Montesquieu, cách thức tổ chức nhà nước của một quốc gia là: “Cơ quan lập pháp trong chính thể ấy gồm có hai phần, phần này ràng buộc phần kia do năng quyền ngăn cản hỗ tương. Cả hai phần sẽ bị quyền hành pháp ràng buộc và quyền hành pháp sẽ bị quyền lập pháp ràng buộc.”

Tư tưởng của Montesquieu tuy vẫn còn điểm hạn chế là bảo thủ phong kiến, đòi hỏi đặc quyền cho tầng lớp quý tộc. Nhưng nó vẫn là nền móng cho tư tưởng phân chia quyền lực sau này, có ảnh hưởng sâu sắc đến những quan niệm sau này về tổ chức nhà nước cũng như thực tiễn tổ chức của các nhà nước tư bản. Ví dụ như đa số Hiến pháp của các nhà nước tư bản hiện nay đều khẳng định nguyên tắc phân quyền như một nguyên tắc cơ bản của việc tổ chức quyền lực nhà nước. Như điều 10 Hiến pháp liên bang Nga quy định: “Quyền lực nhà nước ở Liên bang Nga được thực hiện dựa trên cơ sở của sự phân quyền thành các nhánh lập pháp, hành pháp và tư pháp. Các cơ quan của các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp phải độc lập.” Điều 1 của Hiến pháp Ba Lan cũng trực tiếp khẳng định việc tổ chức bộ máy nhà nước theo nguyên tắc phân chia quyền lực thành ba quyền: lập pháp, hành pháp, tư pháp.

Tiếp nối Montesquieu, J.J. Rousseau cùng với tác phẩm “Khế ước xã hội,” đã đưa ra những quan điểm rất mới mẻ và tiến bộ về sự phân chia quyền lực trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước.

JJ. Rousseau (1712 – 1778) chủ trương nêu cao tinh thần tập quyền, tất cả quyền lực nhà nước nằm trong tay cơ quan quyền lực tối cao tức toàn thể công dân trong xã hội. Nhưng ông lại chỉ ra rằng phân chia quyền lực nhà nước thành quyền lập pháp và quyền hành pháp, giao chúng vào tay cơ quan quyền lực tối cao và chính phủ là cách thức hợp lý duy nhất để đảm bảo sự hoạt động có hiệu quả cho nhà nước, cũng như ngăn chặn được xu hướng lạm quyền. Ngoài ra ông còn nêu lên vai trò quan trọng của cơ quan tư pháp trong việc đảm bảo cho sự hoạt động ổn định của nhà nước, cũng như cho sự cân bằng giữa các vế cơ quan quyền lực tối cao, chính phủ và nhân dân. Nhưng cách phân quyền của Rousseau không giống với Locke và Montesquieu, bởi ông luôn khẳng định một điều duy nhất rằng: “những bộ phận quyền hành được chia tách ra đều phụ thuộc vào quyền lực tối cao” và “mỗi bộ phận chỉ thực hiện ý chí tối cao đó” mà thôi.

3. Nội dung cơ bản

Nội dung cốt lõi của học thuyết này cho rằng, quyền lực nhà nước luôn có xu hướng tự mở rộng, tự tăng cường vai trò của mình. Bất cứ ở đâu có quyền lực là xuất hiện xu thế lạm quyền và chuyên quyền, cho dù quyền lực ấy thuộc về ai. Do vậy, để đảm bảo các quyền tự do cơ bản của công dân, ngăn ngừa các hành vi lạm quyền của các chủ thể nắm giữ quyền lực nhà nước thì phải thiết lập pháp chế nhằm giới hạn quyền lực nhà nước. Cách tốt nhất để chống lạm quyền là giới hạn quyền lực bằng các công cụ pháp lý và cách thực hiện không phải là tập trung quyền lực, mà là phân chia nó ra.

Muốn hạn chế quyền lực nhà nước thì trước hết phải phân quyền, và sau đó phải làm cho các nhánh quyền lực đã được phân chỉ được phép hoạt động trong phạm vi quy định của pháp luật. Sau này, trong một bức thư gửi cho một người cùng thời, ông Samuel Kercheval, Thomas Jefferson, tổng thống thứ 3 của Hoa Kỳ, đã chỉ rõ thêm của sự phân quyền không đơn thuần chỉ diễn ra ở một chiều ngang, mà còn cần thiết ở cả chiều dọc, và ở bất cứ lĩnh vực nào của nhà nước.

Sự “phân quyền” mà Jefferson đã mô tả như sau:

1* Phân bổ quyền lực chính quyền giữa các nhánh riêng rẽ của chính quyền.

2* Sự phân chia các quyền lực đó theo một cách thức sao cho chức năng của một nhánh chính quyền trong một vấn đề cụ thể thì bị giới hạn bởi chức năng của một nhánh khác có thẩm quyền về cùng vấn đề ấy hoặc về một vấn đề khác có liên quan. Thường được gọi là: “các biện pháp kiểm soát và đối trọng quyền lực lẫn nhau” (“checks and balance”). Về cốt lõi, đây là một hệ thống nằm ngay bên trong chính quyền nhằm đảm bảo tính trách nhiệm của chính quyền, được gọi là kiểm tra, giám sát bên trong. Vì sự kiểm tra này tạo ra một cơ chế mặc nhiên ai nắm và được phân công sử dụng quyền lực nhà nước cũng phải bị kiểm tra, theo nguyên tắc phòng ngừa, còn cơ chế kiểm tra được tiến hành từ bên ngoài hầu như chỉ được tiến hành một khi đã có hậu quả xảy ra.

3* Khía cạnh thứ ba của sự phân bổ này là sự phân chia quyền lực của chính quyền theo ngành dọc theo cách thức sao cho mỗi một nhiệm vụ của chính quyền được giao cho đơn vị nào nhỏ nhất, cơ sở nhất trong chính quyền mà có thể đảm trách được nhiệm vụ đó.

(rút trích Luận văn 316 trang)

Biên tập rút gọn: PHN
Nguồn:giangnamlangtu.wordpress.com

Chủ Nhật, 7 tháng 8, 2011

VÌ MỘT XÃ HỘI VĂN MINH.

Sự xấu hổ

Ba tuần lễ trôi qua kể từ cái ngày 17/7 nặng nề ấy.Bao nhiêu ngôn từ đã bình phẩm về cái bàn chân bỗng dưng đặt ngay mặt người dân yêu nước.Ý kiến của các nhân sĩ,trí thức,các trang mạng “lề trái”,các đài nước ngoài phê phán.Và một vị trong tứ trụ yêu cầu xem clip.Rồi phát biểu trong cuộc họp báo của Trung tướng Nguyễn Đức Nhanh.Kết quả là hai cuộc biểu tình phản đối sự ngang ngược của nhà cầm quyền Trung quốc ngày 24/7 và 7/8 hôm nay đã diễn ra với những ứng xử văn minh từ phía người biểu tình và lực lượng cảnh sát,an ninh.

Một cuộc biểu tình đẹp đến từng xen-ti-mét cho cả hai bên

Còn quá sớm để có thể nói đến một sự thay đổi tận gốc rễ tác phong, hành vi, ứng xử đối với dân của đội ngũ thực thi và bảo vệ pháp luật mà vốn dĩ phải có trong một xã hội văn minh.Nhưng dù sao những tín hiệu này cũng cho thấy có một sự thay đổi về nhận thức.
Thứ nhất là nhận thức được bản chất của 09 cuộc biểu tình vừa qua.Thực sự đó chỉ là hành vi biểu thị lòng yêu nước.Đơn thuần là lòng yêu nước, đồng cảm trước những đau thương, mất mát của đồng bào ngư dân, và phản ứng lại những đòi hỏi quá đáng của Trung quốc về chủ quyền biển đảo của Việt nam, cái chủ quyền mà bao thế hệ cha ông ta,và mới đây là gần 150 người con Việt đã dũng cảm ngã xuống trong cuộc chiến không cân sức để giành lại.Không có thế lực phản động nào giật dây, kích động, vì lòng yêu nước không cần đến sự kích động.

Đẹp biết bao.

Thứ hai là nhận thức được cái thái độ cần phải có của một nhân viên công lực trong một xã hội hiện đại (chưa dám nói là văn minh).Hành vi đạp vào mặt người trong tự thế bị túm chân túm cẳng như vậy chỉ có thể có trong thời nô lệ hay phong kiến, khi mà phẩm giá con người không hơn một phút buồn vui ngẫu hứng của các đấng ông chủ.Bác Hồ dạy “…đối với kẻ địch phải cương quyết,khôn khéo” .Với kẻ địch mà còn phải khôn khéo khi cương quyết trấn áp, huống hồ gì đối xử với người dân, mà lại một người dân hiền lành chỉ muốn biểu thị lòng yêu nước.Bao nhiêu cặp mắt từ năm châu bốn biển nhìn vào hình ảnh ấy, họ sẽ nghĩ gì về xã hội Việt nam, đất nước con người Việt nam?
Thứ ba là nhận thức về việc biểu thị lòng yêu nước của người dân. Chắc chắn rằng vị thế của Việt nam trên trường quốc tế sẽ không giảm đi vì những cuộc biểu tình tuần hành diễn ra trong sự ôn hòa,văn minh lịch sự từ phía người biểu tình cũng như lực lượng cảnh sát như thế, nếu không nói là được nâng cao hơn.Bạn bè vị nể ta, kẻ thù cũng phải e dè ta, vì đằng sau chính phủ ấy, đội quân ấy là cả một khối đoàn kết của cả một dân tộc đang sục sôi vì sự toàn vẹn của Tổ quốc.

Duyên dáng Việt Nam

Mặt khác, về phía người biểu tình, cũng nên tiếp tục phát huy cái tinh thần ấy, cách ứng xử ấy, không để một số xung động tình cảm quá khích chen vào làm mất đi sự ôn hòa.Mục đích chính kiến rõ ràng, tuần hành trong trật tự, không cản trở giao thông không cần thiết, tất yếu sẽ lấy được thiện cảm của lực lượng cảnh sát, mà đa phần họ ( lòng yêu nước chưa hẳn đã kém) cũng chỉ vì công vụ mà phải làm.Có vậy thì những cuộc biểu tình tuần hành mới thực sự thành công hoàn hảo theo nghĩa win – win.
Đó cũng là một phương thức để xã hội dần đi đến sự văn minh, hiện đại.

BÀI PHÁT BIỂU CỦA ĐBQH DƯƠNG TRUNG QUỐC



Kính thưa QH,

Với kỳ hợp thứ Nhất của Quốc hội khoá XIII này, chúng ta được chứng kiến một hiện tượng hy hữu trong lịch sử QH. Một vị Phó Thủ tướng thường trực trình bày bản Báo cáo của Chính phủ ở đầu kỳ họp lại trở thành Chủ tịch QH chủ trì giám sát ngay chính bản báo cáo của mình. Lần đầu tiên có một nhà hành pháp lại trở thành nhà lập pháp và hơn thế nữa chúng ta cũng chứng kiến nhiều thành viên của Chính phủ lại “hoá thân” vào QH .

Tôi muốn nhìn nhận khía cạnh tích cực của hiện tượng này. Là người tham gia hoạt động rất lâu năm trong Chính phủ, ở vào những vị trí then chốt nhất của CP, hiểu rõ “chân tơ kẽ tóc” của CP, Chủ tịch QH biết được tất cả những chỗ mạnh, chỗ yếu của CP, từng chiụ trách nhiệm về hoạt động của CP sẽ thực thi trách nhiệm cùng QH giám sát CP sẽ chặt chẽ hơn. Giám sát hiểu theo nghĩa là sẽ phát hiện được những yếu kém để điều chỉnh những hoạt động hành pháp của CP, cũng như với vai trò lập pháp sẽ tạo những hành lang pháp lý chuẩn xác góp phần cho CP thực thi hiệu quả trách nhiệm hành pháp của mình… Đó là hy vọng của tôi và nhiều cử tri.
Tôi cũng mong muốn báo cáo của CP bên cạnh những đánh giá chủ yếu về kinh tế, một lĩnh vực quan trọng nhưng cũng nên quan tâm nhiều hơn đến một lĩnh vực cũng không kém phần quan trọng là những đánh giá về các vấn đề xã hội. Các vấn đề xã hội không chỉ là các chính sách an sinh, con số thống kê thu nhập, giàu nghèo, tệ nạn, tai nạn v.v… mà còn về lòng tin của dân.

Nếu đánh giá về kinh tế có thể biểu thị được bằng con số định lượng (như GDP, chỉ tiêu, sản lương…) thì cũng nên đánh giá chỉ tiêu về lòng tin của dân đối với CP. Những phương pháp điều tra, thống kế hiện đại có thể làm được điều này. Thế giới họ làm nhiều rồi. Một nhà nước của dân,vì dân càng phải quan tâm đến lòng tin của dân. Tôi thấy có đại biểu lấy hiện tượng ở Bắc Phi để đánh giá, theo tôi không thể so sánh vì chúng ta đã có một truyền thống xây dựng được sự đồng thuận trên dưới, giữa nhân dân và chính phủ và phải biết gìn giữ nó như gìn giữ con mắt của mình. Tôi xin đưa ra một thí dụ để làm rõ quan điểm của tôi cũng là đề cập tới một vấn đề hệ trọng chưa được CP quan tâm đúng mức xét theo khía cạnh quan tâm đến lòng tin của dân.

Đó là vấn đề Biển Đông. Không thể không thừa nhận rằng vấn đề Biển Đông trong đó có cả vấn đề bảo vệ chủ quyền cũng như vấn đề phát triển quốc gia là một vấn đề đang nổi bật. Sự tranh chấp, sự đe doạ, sự không ổn định là vấn đề không chỉ các nước có liên quan mà cả thế giới quan tâm. Vậy mà báo cáo của CP tuy có đề cập thể hiện quan điểm mang tính nguyên tắc của CP, nhưng rõ ràng là chưa thể hiện đúng tầm mức. Chúng ta không thổi phồng, không kích động, không để hoang mang là cần thiết, nhưng không thể coi đó là chuyện bình thường được. Nó phải được thể hiện trong báo cáo của CP đúng tầm mức, phải được phản ảnh trong chương trình nghị sự của QH đúng tầm mức để nhân dân tin tưởng, thông suốt…

Ngay chương trình làm việc của QH ban đầu hầu như chẳng có vấn đề gì xảy ra ở Biển Đông cả, phải đến lúc dư luận và đai biểu QH yêu cầu thì QH mới đưa vào chương trình một buổi báo cáo không đầy 1 tiếng và không có thảo luận. Tôi xin bày tỏ điều tôi suy nghĩ về nội dung buổi báo cáo đó, và tôi đã nói với bộ trưởng ngoại giao ý kiến của tôi rằng : Trừ một vài nội dung chi tiết , còn về căn bản nếu những nội dung báo cáo đó được trình bày cho dân chúng thì chỉ có tốt trở lên, dân sẽ tin hơn vào những gì CP đã làm, nó làm sáng tỏ phần nào những băn khoăn , trăn trở của dân và quan trọng hơn là sự ủng hộ của dân được tổ chức, được huy động có hiệu quả.

Cái gì cần tế nhị trong quan hệ ngoại giao ta phải giữ, nhưng với dân thì không cần đến sự tế nhị mà cần sự tin cậy, thẳng thắn. Cái gì cần mềm mỏng với ngoại giao thì cũng cần mềm mỏng trong “nội giao”, đừng tạo ra những khoảng cách, những xung đột không đáng có giữa CP và nhân dân, cho dù sự cảnh giác là cần thiết.

Tôi cũng muốn nêu thêm về một ví dụ mà ngay trong buổi báo cáo ngày hôm qua cũng không đề cập tới. Đó là văn bản của Thủ tướng Việt Nam cách đây nửa thế kỷ. Vấn đề đó, chúng ta hoàn toàn có đủ lập luận để phản bác những ý đồ xuyên tạc. Dường như chúng ta chỉ quan tâm đến bàn hội nghị mà không quan tâm giải thích cho dân biết. Tài liệu ấy họ đã phát tán thành giấy gói hàng, đưa lên mạng vậy mà không có cơ quan nào chính thưc lên tiếng phản bác, giải thích cho dân (mới đây mới được tờ báo của Mặt trận Tổ quốc đề cập tới).

Là người làm nghề sử, tôi muốn nhắc lại một sự kiện cách đây đã 65 năm. Đầu năm 1946, khi cần phải đối phó với một tình huống “ngàn cân treo trên sợi tóc” liên quan đến vận mệnh của Tổ Quốc, Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã đi một nước cờ táo bạo một cách sáng suốt là ký Hiệp định Sơ Bộ 6-3.

Thấy nước cờ ấy dân chưa hiểu, thắc mắc, hoang mang… Chính quyền cách mạng tổ chức cả một cuộc biểu tình có hàng vạn người tham gia trên Quảng trường Nhà Hát Lớn (hình ảnh vẫn còn để ta thấy dân quan tâm đến việc nước như thế nào, có cả dân quê, có cả anh phu xe, công chức hay thợ thuyền, trí thức…).

Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp giải thích cả mấy tiếng đồng hồ, rồi vị Chủ tich nước đứng trước quốc dân nói lên rằng : “Đồng bào hãy tin tưởng ở Nhà nước, Hồ Chí Minh không khi nào bán nước”.

Học tập Bác Hồ nên nhớ cách ứng xử với dân của Bác khi vận nước khó khăn. Cho dù thời đại có nhiều thay đổi, mọi so sánh có thể là khập khiễng thì cái nguyên lý “dân biết” thì “dân mới làm” và dân có điều kiện “kiểm tra” CP là chuyện của muôn đời.

Tại sao phải là đại biểu QH với một phiên hop kín mới được nghe những thông tin mà theo tôi nếu để dân biết thì tốt biết bao. Tôi tin chắc là dân sẽ tin, còn người ngoài có tin hay không thì là việc là thứ yếu.

Thưa QH,

Hướng ra Biển Đông nhưng cũng phải luôn quan tâm đến đất liền, trong đó có nền kinh tế của chúng ta. Chúng ta muốn giữ được chủ quyền chính trị thì cũng phải giữ được chủ quyền kinh tế. Tại kỳ họp cuối cùng của khoá trước, tôi đã đặt câu hỏi chất vấn CP rằng nền kinh tế của ta bên cạnh việc khai thác có hiệu quả những nguồn lực nước ngòai thông qua việc phát triển những mối quan hệ hơp tác, nhưng có lành mạnh không, có bị lệ thuộc không ?

Biết bao nhiêu vấn đề đã được nêu lên ngay trong QH với những định lượng rất đáng lo lắng về những khả năng bị lệ thuộc đặc biệt là với Trung Quốc cần phải được quan tâm để điều chỉnh, vì chưa thấy những dấu hiệu tích cực. Nếu vấn đề có vẻ tế nhị này nhưng phải trên nguyên tắc “tiên trách kỷ hậu trách nhân” còn thiên hạ thì bao giờ cũng quan tâm đến lợi ích, (lợi ích kinh tế, kể cả lợi ích chính trị) bằng mọi giá. Tại sao nông dân trồng vải đến vụ thu hoạch mà các cơ quan quản lý, doanh nghiệp nhà nước vẫn đóng cửa im ỉm (như một phóng sự truyền hình phản ảnh), trong khi thương lái nước ngoài tung hoành và thực sự lại trở thành cứu cánh cho dân.

Đấy mới là quả vải nhỏ bé còn chỉ cần nhìn vào nhiều công trình thắng thầu, dòng chẩy của hàng hoá mà tình trạng nhập siêu là tiêu biểu nhất ,đủ thấy nhiều thông điệp đáng lo ngại khác. Nhìn ngoài thị trường tất cả các mặt hàng tiêu dùng thiết yếu kể cả những mặt hàng nông sản, thực phẩm mà tại Việt Nam thừa khả năng sản xuất cũng nhan nhản ngoài thị trường là hàng Trung Quốc.

Cuối cùng, tôi đề cập tới một nội dung mà đại diện Đoàn Đồng Nai và Đại biểu Lâm Đồng đã đề cập nhưng chưa đủ thời gian, hơn nữa đó lại là chương trình vận động bầu cử của tôi với bà con cử tri sống ven con đường Quốc lộ 20 trước nguy cơ nhãn tiền là việc vận chuyển bô xít liên quan đến một dự án mà QH đã thông qua mà CP cũng cam kết chỉ khai thác bô xit nếu có hiệu quả kinh tế và bảo đảm an toàn môi trường. QH có trách nhiệm giám sát trong quá trình triển khai thực hiện. Đó là mới quan tâm đến việc khai tuyển mà chưa quan tâm đến tác động của việc vận chuyển.

Về việc này, vị đại diện TKV vừa phát biểu. Tôi lấy làm lạ là học sinh đã kém sử mà chúng ta lại kém toán hay sao mà không nhận ra lộ trình đến 15 tháng 8 này phương án mới chuyển Phó Thủ tướng Chính phủ xem xét mà cuối năm xe chở bô xít đã phải lăn bánh rồi. Các chiến sĩ Công an Đồng Nai (?) chúng tôi chỉ đặt một câu hỏi : Liệu xe trọng tải 40 tấn có được cho phép đi trên cầu 25 tấn không? Đây không phải là bài toán kinh tế mà là bài toán kỷ cương, bài toán pháp luật . Là cơ quan lâp pháp và giám sát thực thi pháp luật, để xẩy ra tình trang nan giải này, có trách nhiệm của cả QH.

Hy vọng với môt QH khoá mới, có CTQH mới QH sẽ khắc phục một cách căn bản những tình huống tương tự làm giảm lòng tin của người dân vào QH và CP.

Nguồn: Tầm nhìn.net

Thứ Bảy, 6 tháng 8, 2011

LẤY LẠI NHỮNG GÌ ĐÃ MẤT.


Bản đồ Trung quốc,có cái lưỡi bò nha
Kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa này, đại biểu Nguyễn Bá Thuyền (Lâm Đồng) đề ra mục tiêu “…cố gắng lấy lại Hoàng sa trong nhiệm kỳ này”.Hùng khí thay, mạnh mẽ thay…Sướng tai thay.
Nếu đại biểu này vận động (giả sử vậy) được 2/3 số đại biểu đồng ý đưa vấn đề này thành Nghị quyết (thiệt ra chỉ có 2/500 đại biểu Quốc hội đề cập đến vấn đề biển Đông,ông Thuyền và ông Nguyễn Tấn Tuân của Khánh Hòa), Quốc hội sẽ bàn bạc,nâng lên đặt xuống, rồi sẽ ra nghị quyết…Có nghị quyết thì Chính phủ phải thi hành…
Miềng hình dung những giải pháp sau đây sẽ được đưa ra:
1.Kiện.Tất nhiên, phải lôi cổ tên ăn cướp ra Tòa.Nhưng Trung quốc nói rằng nị có ra thì ra,ngộ không ra, làm chi ngộ.Khóc.
2.Đem hạm đội tàu ngầm (sắp có) đi đánh chìm mấy cái tàu Hải quân,Ngư giám của Trung quốc,rồi đổ bộ lên nhổ phăng mấy cây cờ một sao lớn bốn sao nhỏ.Cách này dễ à nha.
3.Huy động lực lượng ngư dân cứ tập trung ra Hoàng sa đánh cá.Tụi Hải giám, hải quân lo đổ xô đi bắt.Ta dùng đặc công lén nhảy lên đảo,chiếm luôn.He he.Hơi bị tốn tàu cá.
4.Rủ Mỹ đem hạm đội VII vô đánh mướn.Có gì mình chịu tiền xăng, tiền đạn.Nhưng Mỹ sợ Trung quốc đòi nợ.
5.Cử Thân Bao Sơn qua Bắc Kinh lấy tình đồng chí nghĩa môi răng ra thuyết cho mấy ảnh mủi lòng trả lại.Nhưng mấy ảnh đương bận mủi lòng ở Tân Cương,Tây Tạng…chưa có thời gian mủi lòng với người anh em.Về đi.
Hết rồi.Chắc hết cách rồi.Bỗng dưng muốn khóc.Nói ra thì đau lòng, chớ thiệt cái gì đã vào trong tay Trung Quốc,hiển nhiên là của Trung quốc rồi.Đúng vậy chớ răng.Ông Tư Hãn (tên gọi nôm na của ông Thành Cát) hồi xưa uýnh ngộ te khói nhưng mà giờ đất ổng, kể cả chiến công, vinh quang của ổng,cũng là của ngộ rồi. Mấy anh Ngoại Mông đâu dám thè lưỡi ngựa như cái lưỡi bò của ngộ đâu.
Chừ ri hỉ. Cứ giữ cho được cái gì còn lại là tốt lắm rồi. Đòi thì cứ đòi, la thì cứ la.May chi mấy kẻ trộm gà ngồi húp cháo gà cũng cứ phải nhớ đây là cháo gà ăn trộm, chớ không phải gà mình nuôi là được. Chớ vui quá ra cái nghị quyết thu hồi Hoàng sa trong nhiệm kỳ có mà toi.
Mong rằng sắp tới miềng độc lập hơn, tự do hơn, hạnh phúc hơn.Dân giàu hơn, nước mạnh hơn. May mắn chi tsunami nó quét qua Hoàng sa cái tụi nó biến sạch lúc ấy mình lại ra nhặt lại. Hehe.

Thứ Sáu, 5 tháng 8, 2011

VÀI SUY NGHĨ RỜI RẠC VỀ DÂN CHỦ.


Biểu tình ở Thái Lan (3-4/4/2010)
Tôi cảm thấy rất thú vị trước ý này và bài này của nhà báo Hannah Beech khi cô bàn về dân chủ ở châu Á, giữa lúc các phong trào áo vàng - áo đỏ đang xuống đường rầm rộ ở Thái Lan cách đây chưa lâu.

"They called themselves the people's Alliance for Democracy (PAD), but their aims were hardly democratic. During their 192-day protest campaign, the PAD paralyzed Thailand, blockading the capital's two airports for eight days and besieging the Prime Minister's office complex for months."

"Họ tự gọi mình là Liên minh Nhân dân vì Dân chủ (PAD), nhưng mục đích của họ khó có thể coi là dân chủ được. Suốt 192 ngày của cuộc phản đối, PAD đã làm tê liệt Thái Lan, phong tỏa hai sân bay của thủ đô trong tám ngày và vây hãm văn phòng Thủ tướng hàng tháng trời".

Beech dẫn chuyện ở Thái như là một ví dụ sinh động cho điều mà bà cần nói: dân chủ - theo khái niệm của phương Tây - đang vật lộn trong cuộc sinh tồn trên xứ sở châu Á. Sau khoảng chưa đầy một thế kỷ rưỡi kể từ khi người châu Âu bắt đầu mang theo những hình thái dân chủ, pháp quyền sơ khai tới Á Đông; và sau chỉ chưa đầy vài chục năm kể từ khi các mô thức dân chủ hiện đại đơm mầm, người Á Đông vẫn đang cố gắng làm quen với dân chủ. "Không hiểu sao nền dân chủ Thái Lan lại ra thế này", Thitinan Pongsudhirak, một giáo sư chính trị tại đại học Chulalongkorn ở Bangkok băn khoăn.

Niềm băn khoăn của Thitinan là dễ hiểu, khi mà PAD, vốn luôn nêu cao khẩu hiệu dân chủ, ủng hộ phong trào dân chủ 1992, thì lúc bấy giờ lại đang ra sức ủng hộ một mô thức bầu nghị sĩ phi dân chủ.

Và Thái Lan không phải là một ví dụ đơn lẻ, những điều tương tự cũng xảy ra, thi thoảng hoặc khá thường xuyên, ở những xã hội dân chủ Á Đông khác, như Hàn Quốc, Đài Loan, Philippines...

Điều đáng chú ý là, một số biểu hiện chệch choạng cụ thể này của dân chủ, đã làm gia tăng mối hồ nghi trong dân chúng về các giá trị dân chủ phương Tây. Ở Thái Lan, một bộ phận trong tầng lớp trí thức đã bắt đầu đồng cảm với quan điểm của Samuel P. Huntington rằng, một nền dân chủ phương Tây phổ quát (một kiểu trang phục one-size-fits-all) chỉ là ý chí chủ quan của phương Tây. Họ hồ nghi về tính phổ quát đó, và họ đã vặc lại bằng một câu cắc cớ quen thuộc: "Tại sao chúng tôi lại phải mang đôi giày dân chủ kiểu Âu - Mỹ? Chúng tôi có hình thức dân chủ phương Đông của chúng tôi".

Tồi tệ hơn, một số chệch choạng hiện tại, theo Beech, đã làm nảy sinh tâm lý hoài cổ trong dân chúng. Họ tiếc nuối những nhà độc tài bị lật đổ thuở xưa. Thật là một cái vòng luẩn quẩn! Chính những con người từng có khát vọng, hơn ai hết, lật đổ độc tài, thì giờ đây tâm hồn đang luẩn quẩn ở đâu đó trên chuyến tàu ngược về quá khứ. Tâm lý này là dễ hiểu. Khi người ta có một chút gì đó, có thể ít thôi, thất vọng về hiện tại, người ta sẽ sống với quá khứ nhiều hơn, người ta sẽ nhớ về những điều tốt đẹp và bỏ qua những u ám của quá khứ. Ở đâu cũng vậy.

Nhưng nếu tâm lý hoài cổ chỉ phảng phất đâu đó, thì có một sự thực rất thực, đó là người Á Đông vẫn còn bỡ ngỡ với dân chủ kiểu phương Tây, sau chừng ấy thời gian tiếp thu và vận dụng. Điều này cũng giống như một gã Á Đông cứ mãi cảm thấy chật chội trong chiếc áo com lê, nên cơi nới chỗ này, chắp vá chỗ kia. Thành ra chiếc com lê lịch lãm phương Tây khi đến tay gã đã trở thành một món trang phục nửa mùa, một thứ dấm dớ nào đó, đông chẳng ra đông, tây chẳng ra tây. "Chúng tôi có hình thức dân chủ phương Đông của chúng tôi", vì thế, là một ngụy biện, một sự chống chế.

Theo Beech thì dự án Barometer châu Á, một chương trình thăm dò ý kiến công chúng về chính trị, đã tìm thấy kết quả trong một cuộc thăm dò rằng: số đông người châu Á ủng hộ các giá trị dân chủ, nhưng tỉ lệ dân chúng mong muốn giảm bớt quyền lực của lãnh đạo thấp hơn nhiều so với châu Âu, thậm chí còn thấp hơn cả vùng Nam Sahara. Tức là, tinh thần dân chủ châu Á chưa triệt để bằng châu Phi. Chẳng hạn như ở Hàn Quốc, có tới hai phần ba những người được hỏi đồng ý rằng nên trao cho những nhà lãnh đạo tốt bụng quyền được làm bất cứ gì ông ta muốn, dù việc đó có thể phạm luật, một kiểu xuất hóa đơn khống vậy. Đây là một tàn dư, hay một giá trị, của tinh thần Khổng giáo.

Dân chủ, theo cách hiểu phổ thông hiện nay, là một giá trị mà người phương Tây sáng tạo ra. Giá trị đó không phải chỉ mới xuất hiện từ Cách mạng Hà Lan thế kỷ 16 hay từ khi Charles-Louis de Secondat, Nam tước xứ Montesquieu, xây dựng lý thuyết tam quyền phân lập. Nó đã được gieo mầm từ thời cổ đại, từ nhà nước Cộng hòa La Mã hay những thuyết luận của Aristotle. Nó là một phần của phương Tây, hay chính xác hơn, nó chính là phương Tây và phương Tây chính là nó.

Người phương Tây duy lý ít tin vào một nhà lãnh đạo tốt bung, nhưng họ tin có thể lập ra những thiết chế để hạn chế ở mức cao nhất mặt tiêu cực của nhà lãnh đạo. Đó chính là tư duy pháp trị. Trong khi đó, người Hàn Quốc, trong ví dụ ở trên, tin rằng nên trao quyền lực vô biên cho những nhà lãnh đạo tốt bụng. Đấy chính là khoảng cách trong cách hiểu dân chủ giữa người phương Đông và phương Tây.

Việt Nam, nằm ngay trên lộ trình Đông tiến của người châu Âu, đã va chạm rất sớm với nền văn minh phương Tây. Nhưng bánh xe lịch sử trớ trêu đã đẩy đất nước này đi theo một lối khác với Hàn Quốc, Thái Lan, Nhật Bản, Philippines... Thay vì nhập khẩu dân chủ phương Tây, Việt Nam chọn chủ nghĩa cộng sản - cũng là một sản phẩm nhập cảng từ phương Tây nhưng đến nay đã thất bại ngay chính trên mảnh đất mà nó sinh ra.

Vì hoàn cảnh này của Việt Nam, và đặc biệt hơn nữa là sau khi chuỗi nhà nước cộng sản ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, mà ham muốn dân chủ phương Tây bung ra như một lẽ tự nhiên, ngày càng mãnh liệt. Trước hết là ở tầng lớp trí thức tinh hoa, sau đó tới số đông dân chúng.

Nhưng cũng tương tự như các ví dụ ở trên, về Thái Lan, Hàn Quốc..., người Việt Nam sau chừng ấy năm dường như vẫn còn bỡ ngỡ, lúng túng trước cái khái niệm dân chủ, pháp quyền, xã hội dân sự... Trong hành vi hằng ngày của những người cổ súy dân chủ, có thể nhận ra những tàn tích của tư tưởng Khổng giáo, hoặc quán tính của một thời gian dài sống dưới chế độ cộng sản. Tiến sĩ luật Cù Huy Hà Vũ là một ví dụ sinh động về sự giằng xé nội tại trong cùng một con người.

Được đào tạo bài bản ở phương Tây, và trưởng thành trong thời buổi thoái trào của chủ nghĩa cộng sản tại châu Âu và Nga, ông Cù Huy Hà Vũ có tất cả những điều kiện và lý do để theo đuổi con đường mang hạt giống dân chủ phương Tây gieo xuống xứ sở này. Và chính ông đã mạo hiểm bản thân để thực hiện điều đó. Khi ông kiện chính phủ của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trong vụ bôxít Tây Nguyên, tôi không dám chắc rằng ông tin hành động đó sẽ dẫn tới một phán quyết của tòa án, đừng nói tới một phán quyết theo chiều hướng ông mong muốn, nhưng tôi tin rằng bằng hành động ấy, ông muốn thúc đẩy nhận thức về một xã hội pháp quyền, nơi mọi công dân đều công bằng trước pháp luật, đều phải trả lời pháp luật về hành động của mình. Khi ông hô hào đa đảng trên các báo đài hải ngoại, đó là lúc ông muốn có một nền dân chủ phương Tây ở đây. Ông là một con người vừa có khát vọng, vừa dám dấn thân, vừa có tư duy, vừa có ý chí. Thế nên, ông dễ dàng trở thành nguồn cảm hứng, thần tượng của đám đông đang khao khát những anh hùng dân chủ.

Nhưng mặt khác, cũng chính trong con người của tiến sĩ Vũ, tôi thấy vẫn còn phảng phất hình bóng của một đứa con cưng trong lòng chế độ cộng sản. Hay nói cách khác, quán tính của ngày trước đang giằng co với tư duy dân chủ của hôm nay. Sau vụ đập tường gạch nhà ông Vũ, ông đã vác đơn chạy thẳng lên Văn phòng Trung ương Đảng để tìm gặp ông Tổng bí thư Nông Đức Mạnh. Hình ảnh này hình như hơi đá nhau với chủ trương dân chủ, pháp quyền mà ông luôn nhấn nhá. Hay chẳng hạn như, lúc này, ông cổ súy dân chủ, tự do cá nhân, tự do báo chí, đả phá sự độc đoán của chính quyền, lúc khác, ông lại kêu gọi chính cái chính quyền mà ông cho rằng độc đoán ấy sử dụng công cụ độc đoán để ngăn cản một bộ phim mà theo ông là "giống Tàu". Kêu gọi tẩy chay, phê phán một bộ phim là quyền tự do công dân, điều bình thường trong một xã hội đa nguyên, nhưng cầu viện tới chế độ mà mình cho là độc đoán để thực thi một biện pháp độc đoán đối với một bộ phim, tôi e rằng là chưa thật ổn về mặt lập trường dân chủ. Dân chủ, pháp quyền không phải là những khái niệm có thể du di, ở chỗ này thì thế này, chỗ kia thì thế kia (*).

Tôi không cho rằng ông Vũ là một con người hai mặt. Nhưng tôi thấy rằng, trong cơ thể ông đang có một sự giằng xé nội tại, một bên là ý thức đấu tranh cho dân chủ, dân quyền, một bên là tâm lý con cưng chế độ vẫn còn rơi rớt lại. Đây là một sản phẩm lịch sử và nó vượt ra ngoài ý thức chủ quan của chủ thể.

Sự giằng xé này không chỉ tồn tại trong những cá nhân. Nó cũng tồn tại trong những xã hội. Chẳng hạn như một xã hội Thổ Nhĩ Kỳ luôn chịu sự giằng xé giữa một bên là các giá trị Hồi giáo và bên kia là tinh thần hướng Âu. Hay một xã hội Việt Nam luôn chịu sự giằng xé giữa truyền thống và hiện đại.

Thực ra, ông Vũ chỉ là một trong rất nhiều ví dụ về sự giằng xé ở những con người chủ trương dân chủ tại Việt Nam. Rất gần thôi, ở trên thế giới mạng này, có thể dễ dàng gặp các văn nghệ sĩ, các nhà khoa học, các trí thức cấp tiến, lúc này họ hô hào tôn trọng quyền tự do sáng tạo, họ lên án việc cấm Rồng Đá, Thời Của Thánh Thần, nhưng lúc khác họ lại cầu viện tới hội đồng xét duyệt văn học, hội đồng kiểm duyệt điện ảnh của cái nhà nước luôn bị họ ta thán ấy, kêu gọi các quan chức sa lông và ít có hiểu biết cũng như tinh thần trách nhiệm ra tay để loại bỏ tác phẩm này, tác phẩm kia khỏi giá sách, khỏi rạp chiếu phim, vì vong bản, vì lai Tàu, vì tầm thường, vì dâm tục - như Sợi Xích của Lê Kiều Như hay Hội Thề của Nguyễn Quang Thân chẳng hạn. Một số người, sau một thời gian đấu tranh, lại thấy mình như đang trở về cái thời hoàng kim của đấu tố.

Một xã hội đa nguyên, một xã hội dân chủ lành mạnh là một xã hội mà trong đó những tư tưởng khác nhau, thậm chí đối nghịch nhau có thể cùng tồn tại, dù va chạm nhau chan chát. Một người Mỹ vác súng sang chiến trường Iraq, đó là một người Mỹ yêu nước (Mỹ). Nhưng đồng thời, một người Mỹ xuống đường chống việc đưa quân sang Iraq, đó cũng là một người Mỹ yêu nước (Mỹ). Người lính ra trận vì họ tin rằng tiến hành cuộc chiến tranh này là tốt cho nước Mỹ, là nhằm bảo vệ lợi ích của nước Mỹ. Sinh viên xuống đường chống chiến tranh bởi không muốn nước Mỹ phải tốn máu, tốn tiền (còn tình yêu hòa bình, lòng trắc ẩn nào đó đối với người dân ở đất nước Iraq "nào đó" thì là điều xa xỉ). Những luồng tư tưởng đối nghịch đó cùng tồn tại và nước Mỹ vẫn không ngừng đi lên.

Từ góc độ của người quan sát, tôi từng thấy, trong số các "elite" dân chủ ở Việt Nam, một luật sư Lê Công Định với những ý thức dân chủ triệt để, không bị giằng xé giữa cái tôi độc đoán và luật chơi của dân chủ. Hay nói cách khác, ông hiểu rất rõ những giá trị mà ông theo đuổi (**). Nhưng ở ông lại thiếu mất sự sôi nổi, hào nhoáng của một nhà hoạt động hàng "elite", trong cái thời buổi mà người ta cần nhất sự sôi nổi, hào nhoáng này. Dễ hiểu vì sao ông ít tạo ra được cảm hứng mãnh liệt từ đám đông.
Và bây giờ thì ông cũng không còn "hot" nữa.

* Không mấy liên quan, nhưng không hiểu sao tôi chợt nhớ tới bộ phim hành động Blitz có tay diễn viên Jason Statham đóng vai người hùng cảnh sát. Gã giết người hàng loạt (mà toàn giết công an mới mấu chứ) bị sa lưới với rất nhiều thứ gần như là bằng chứng. Nhưng rốt cuộc, ba ngày sau, khi Statham và đồng sự không tìm ra bằng chứng nào đủ thuyết phục, thì cảnh sát buộc phải trả tự do cho Blitz. Nhân vật do Statham đóng nhận thấy, nếu để thằng Blitz này sống cho tới khi cảnh sát tìm ra bằng chứng đủ thuyết phục, thì e rằng sẽ có thêm nhiều cảnh sát nữa bị hạ. Thế là Statham dùng luật rừng để xử. Một phát súng trên sân thượng và thế là mọi việc kết thúc. Tôi thấy ở câu chuyện này một tinh thần pháp trị rất cao, đó là, trong mọi trường hợp, hãy lôi luật ra mà làm việc. Còn nếu không, anh hãy chọn luật rừng. Hoặc là luật pháp, hoặc là luật rừng, không có chuyện du di, linh hoạt.

--------------------

(**) Nhưng giờ ông đang ở tù. Giả sử ông thay cái tủ sách rất lớn ở nhà bằng tủ rượu thì chắc giờ này vẫn sống khỏe re. Khổ thế. Thời đại của những tủ rượu!

Nguồn:blogmrdo.blogspot.com

NHÂN VẬT TAM QUỐC.

Từ Thứ,tay công chức thứ thiệt

Từ Thứ
Xét về tài thao lược,có lẽ Thứ chỉ chịu xếp sau Ngoạ Long,Phượng Sồ.Vậy mà một chút sơ sểnh,Thứ phải lóc cóc về Tào,bắt đầu cuộc đời thân ở Tào,lòng ở Lưu.Không biết Thứ có mắc cỡ khi hàng tháng nhận lương đều đặn mà chẳng chịu làm gì,chẳng tham mưu cho Tào một ý kiến ý cò gì.Rõ Thứ giống một bộ phận công chức ngày nay:Ai cũng nhận lương mà không ai làm việc....Biết mà không nói.Kệ cho ông chủ Tào suýt chết cháy ở Xích Bích,Thứ lặng lẽ chuồn về Hứa Đô ngồi chơi cờ tướng.Không biết sau vụ đó Tháo có đuổi việc Thứ vì thiếu tinh thần trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng không,chứ các sếp chúng ta bây giờ nên cẩn thận với những nhân viên như thế này.

Trương Phi đánh Đốc Bưu, tội chống người thi hành công vụ

Trương Phi
Rõ là anh chàng họ Trương này sai lè lè ra rồi.Đốc Bưu là quan thanh tra,thì hiển nhiên là có đức hách dịch và đức vòi tiền như các quan thanh tra khác.Đời nào cũng vậy.Có trách là trách ông huyện Lưu Bị không biết cách bòn khoét của dân,ăn phần trăm các dự án tái thiết huyện sau cuộc chiến tranh với giặc Khăn Vàng để đút lót cho Bưu.Mà không biết ăn thì đừng làm quan,sớm muộn gì cũng rước hoạ vào thân.
Trương Phi cậy thân thế là em quan,dù là em nuôi,xông vào trói đánh Đốc Bưu,là vướng hai tội:Một là chống người thi hành công vụ,hai là tội làm nhục người khác.Còn thêm lỗi cậy thân thế con em quan chức để quậy phá gây rối,chưa kể có thể hành động khi nồng độ cồn trong máu vượt quá mức cho phép.Từng ấy thứ đủ đưa Phi ra toà với mức án từ 3 đến 7 năm rồi.
Còn ông huyện Bị,đã không đem phép nước ra trị ông em của mình,lại a dua theo treo ấn bỏ quan mà chưa được sự đồng ý của cấp có thẩm quyền.Tự ý bỏ việc như vậy là vi phạm pháp lệnh công chức rồi,lại bao che cho tội phạm Trương Phi,ông huyện Bị này chắc cũng phải ra toà vì tội không tố giác tội phạm quá.

Tại sao Tào Tháo giết Dương Tu ?

Tào Tháo
Thứ nhất,Tu đã cố ý đưa thông tin sai lạc.Trận đánh với Lưu Bị tại Nam Trịnh (Đông Xuyên),Tháo giao mật khẩu cho Hạ Hầu Đôn là Kê Cân,có nghĩa là gân gà,Tu đã thông tin cho binh lính thuộc quyền là Thừa tướng xuống lệnh rút lui nên sắm nắm hành trang chuẩn bị về.
Thứ hai,Tu cố ý làm lộ bí mật công tác.Tháo dặn lính hầu là Thừa tướng hay nằm mê giết người,nên không được ai lại gần khi Tháo ngủ.Một ngày Tháo đang ngủ trong trướng,đạp rơi chăn,tên lính hầu thấy vậy nhặt chăn đắp lại cho chủ.Tháo vùng đứng lên tuốt kiếm chém bay đầu kẻ khốn khổ rồi trùm chăn ngủ tiếp.Lát sau Tháo ngồi dậy vờ khóc lóc :Ai giết tên hầu của ta thế này,rồi cho làm ma to.Ai cũng thương xót cho tên hầu,chỉ có Dương Tu cười khẩy:Thừa tướng không ngủ mê đâu,ngươi mới là kẻ ngủ mê.Lộ bí mật công tác của Thừa tướng.
Thứ ba,Tu lợi dụng quyền tự do dân chủ.Khi Tháo đến xem việc sửa chữa cổng vườn phủ Thừa tướng,lấy bút đề chữ Hoạt vào cổng rồi bỏ về.Tốp thợ ngơ ngác không hiểu Thừa tướng muốn gì.Tu láu táu nói:Chữ Hoạt để bên cạnh chữ Môn (cửa) thành chữ Khoát nghĩa là rộng.Tốp thợ theo lời Tu sửa cổng hẹp lại.Chuyện chơi chữ là độc quyền của Thừa tướng mà Tu lại dám tự do hiểu ý thì...
Thứ tư,Tu lạm dụng chức vụ quyền hạn.Khi Tháo muốn thử tài hai con là Phi và Thực,sai hai người ra cổng thành nhưng ngầm ra lệnh cho lính canh ngăn lại.Phi không qua được cổng đành trở về.Chỉ có Thực nhờ Tu bảo trước nên hiên ngang tuốt kiếm chém bay đầu quân canh để đi qua với lý do:Ta phụng mệnh Thừa tướng ai dám ngăn trở...Vậy Tu đã lạm dụng chức vụ của mình được ở bên Thừa tướng biết được thông tin và bán thông tin cho Thực gây hậu quả cực kỳ nghiêm trọng.
Vậy Tu chết là phải lắm.Đâu có oan.

Viên Thiệu đóng tàu.

Viên Thiệu
Thiệu,xuất thân con nhà thế gia,ba đời làm tới tam công,bản thân hào hoa phong nhã,nắm quyền Đại tướng quân,ngồi trấn bốn châu Ký, Thanh, U, Tinh, lương đủ quân nhiều. Một ngày nọ bỗng nổi hứng tính đóng tàu lớn nam hạ đánh Tào Tháo.
Xét về tài nguyên vật lực,Thiệu không thiếu thứ gì,lại mới "vay tạm" binh lương của Công Tôn Toản,thừa sức đóng tàu to dọa tới ba đời nhà Tào Tháo.
Tuy nhiên,Thiệu lại có quá nhiều quân sư,mà kẻ nào cũng đeo quạt đầy mình.Quạt Tây Vực có,quạt Đông Thổ có,mà kẻ nào cũng cho quạt mình là nhất.
Thiệu tính thương người,lại thiếu khả năng quyết đoán,nên nghe quạt phía nào cũng mát.Thay vì đóng tàu Càn thiên áp lãng,Thiệu bèn gom tất cả các loại quạt để không mất lòng quạt nào,chế ra loại tàu Tứ phương bình bình,bề nào cũng bằng nhau,hình dung giống con giải Kiếm hồ,gọi là Viên Viên quy thuyền.
Đối trận với Tào,Viên viên quy thuyền xoay tròn tròn,tứ lục bát phương thọ địch.Lính Hà Bắc chóng mặt,ói mửa như lộng vũ.Rốt cuộc Viên Viên quy thuyền chìm nghỉm,Thiệu thổ huyết chạy về Hà Bắc.Quân tan thân bại.Bao nhiêu hùng khí đóng tàu ra biển lớn chết chìm theo tay Tào.
Vậy chăng,cái gì lai tạp cũng không nên.Tàu thuyền có dài có ngắn,cái gì ra cái ấy.Lai tạp làm gì cho khổ thân.

CÓ NÊN NUỐI TIẾC.




Có ba thứ trong đời không bao giờ nên tiếc nuối: Một tình yêu đã ra đi; một người bạn không xứng đáng và ngày hôm qua.

Bởi vì đó là những điều đã không còn có thực, không còn có ý nghĩa và không còn tồn tại trong ngày hôm nay và ngày mai của ta. Vì thế, là những điều không nên làm vướng bận lòng ta, không nên làm u sầu trái tim ta và làm rơi nước mắt ta thêm nữa.

Một sớm mai kia thức dậy, bạn có thể sẽ thấy người bạn yêu không còn là người đàn ông/đàn bà bạn đã yêu nữa. Bạn sẽ buồn vì họ? Sẽ đau vì không thể yêu người đó nữa? Sẽ tiếc nuối tình yêu đã có? Nhưng, hãy nghĩ: Khi bạn yêu họ, họ là người bạn yêu, với những gì bạn yêu. Khi họ không còn như thế nữa, hoặc khi bạn nhận ra họ chưa bao giờ như bạn nghĩ, cũng đừng cảm thấy đau buồn hay nuối tiếc. Bởi vì tình yêu đó, trước giây phút đổi thay đó đã là một tình yêu trọn vẹn, người yêu đó trước giây phút nhận ra đó đã là một người yêu trọn vẹn. Chỉ có điều, đó là một tình yêu đã qua, một người yêu đã ra đi. Và nên để gió cuốn bay đi...

Một người bạn không xứng đáng với những gì ta dành cho họ càng không bao giờ nên hối tiếc, cho dù có thể là một nỗi buồn trong thoáng chốc. Buồn không phải vì ta đã dành cho họ nhiều yêu thương mà họ không xứng đáng được nhận, cho đi là không bao giờ nên hối tiếc. Mà buồn vì cuộc sống không nên như thế, con người không nên như thế, vậy thôi. Dù sao, cũng nên sống hết mình, yêu thương hết mình. Đâu đó trong cuộc đời vẫn là những vòng tay rộng mở, còn những cái quay mặt đã ở sau lưng...

Và ngày hôm qua. Ngày hôm qua luôn là một cái bóng rất lớn, đôi khi là quá lớn lên hiện tại. Cho dù là cái bóng của hạnh phúc hay bất hạnh. Có những người không bao giờ thoát nổi ra khỏi cái bóng đó để bước đi về phía ngày mai. Nhưng bạn biết không, chỉ những người không nhìn thấy bóng mình vì bận rộn ngẩng cao đầu bước mới không luẩn quẩn ở cái bóng của mình mãi. Ngày hôm qua chỉ là một cái bóng. Mà chúng ta thì cần điều gì đó rõ rệt, mang dáng dấp, hơi thở, sự sống. Đừng đuổi theo cái bóng đó, bạn nhé. Nó cũng giống như ngồi thở than vọng tưởng những cánh bướm mùa trăng tròn thuở xưa. Hãy cứ thương nhớ nhưng đừng bao giờ tiếc ngày hôm qua. Ngày hôm qua đã qua rồi...

Đôi khi, đúng hơn là rất nhiều khi tôi cũng thấy buồn. Nhưng tuyệt nhiên không bao giờ cho phép mình nuối tiếc. Tôi tin, rất tin cuộc sống cần dựa trên những nỗ lực không mệt mỏi để vươn lên, để cho đi và để biết trân trọng hiện tại, hướng tới ngày mai. Những gì đã cho đi là những điều quý giá. Những hạnh phúc đã mang đến cho người là những món quà tự tặng mình. Những yêu thương đã trao là những yêu thương được nhận. Ngay cả những nỗi buồn cũng là một trải nghiệm ý nghĩa. Những cho nhận ấy ngày hôm nay và ngày mai nhìn lại ta mới có thể thấy hết giá trị của đời mình.

Những người luôn bận lòng với những đố kị, day dứt với những đau khổ, trẫm mình trong nước mắt, giam mình trong những ám ảnh về quá khứ và dằn vặt mình với những đòi hỏi yêu thương là những người không bao giờ có thể hạnh phúc, không bao giờ biết giá trị đích thực của cuộc sống.

Một sớm mai kia khi tất cả sẽ thành hư vô trong đời, tôi mong bạn sẽ mỉm cười. Vì mình đã sống những ngày trọn vẹn.

TIỂU NHÂN & QUÂN TỬ.


Khổng Tử

1. Hai từ “Tiểu nhân” vốn có xuất xứ từ kinh Phật, trong Tạp thí dụ kinh. Chuyện là xưa có người tiểu nhân ngoại quốc hầu hạ người quyền quý, muốn lấy lòng người này, hễ thấy người quyền quý dổ một bãi nước bọt thì chạy liền đến dùng bàn chân xóa sạch đi. Trong số đó có một người tay chân chậm chạp, tuy cũng muốn lấy chân mình dẫm lên bãi nước bọt mà không kịp. Một lần, người giầu sang chúm miệng lại như sắp dổ nước bọt, anh ta liền giơ bàn chân giẫm lên miệng người giầu sang kia. Người giầu sang quát: “Mày muốn làm phản hả? Sao lại đạp lên miệng tao?” Tiểu nhân trả lời: “Tôi có ý tốt, số là ngài dổ nước bọt tôi muốn dẫm lên xóa sạch, nhưng nước bọt vừa ra khỏi miệng ngài thì người ta đã gianh nhau xóa mất rồi, tôi luôn luôn không kịp, vì vậy giờ tôi phải xéo lên bãi nước bọt khi nó còn ở trong miệng ngài”.

2. “Tiểu nhân” là từ trái nghĩa với “quân tử” mà Nho gia dùng để gọi những người phẩm chất hèn kém hay địa vị thấp kém. Luận ngữ – Vi chính viết: “Bậc quân tử trung tín với tất cả mọi người mà không bè đảng, còn tiểu nhân thì bè đảng mà không trung tín với tất cả mọi người” (Quân tử chu nhi bất tị, tiểu nhân tị nhi bất chu).

3. Quân tử là người có tài học, đức hạnh hoặc làm quan theo quan niệm Nho gia. Tiểu nhân thì ngược lại. Khổng Tử chủ trương người thống trị nên thi hành nhân chính, dùng đức tốt mà giáo hóa trăm họ chứ không nên hơi một tí là sát phạt. Luận ngữ – Nhan Uyên: “Quan Thượng khanh nước Lỗ là Quý Khang Tử hỏi Khổng Tử rằng, nếu giết kẻ vô đạo để thành hữu đạo thì thế nào? Khổng Tử đáp, ngài làm chính sự, cần gì phải giết chóc? Đức của người quân tử ví như gió, đức của kẻ tiểu nhân ví như cỏ. Gió lướt trên, cỏ ắt phải rạp xuống” (Quân tử chi đức phong, tiểu nhân chi đức thảo. Thảo thượng chi phong, tất yển).

4. “Cửu tư” (chín điều cần suy nghĩ) là chuẩn tắc tu thân xử thế của người quân tử. Luận ngữ – Quý thị: “Khổng Tử nói: Người quân tử có chín điều lo nghĩ: nhìn lo sao cho tinh, nghe lo sao cho sáng, vẻ mặt lo sao cho hòa nhã, thái độ lo sao cho khiêm cung, nói năng lo sao cho trung thực, làm việc lo sao cho thận trọng, nghi ngờ lo sao cho hỏi ra lẽ, bực tức lo tới hậu quả hoạn nạn, thấy được (lợi) phải lo tới nghĩa”.

5. Người quân tử có ba lần biến đổi (Quân tử tam biến – lời của Tử Hạ, học trò Khổng Tử). Luận ngữ – Tử Trương: “Người quân tử có ba lần biến đổi: nhìn từ xa thì thấy nghiêm trang đường bệ, đến gần tiếp xúc thì thấy thái độ ôn hòa, nghe lời nói thì thấy ngay chính, nghiêm túc”.

6. Quân tử có ba lỗi (quân tử tam khiên) là kinh nghiệm của Khổng Tử rút ra khi đi du thuyết chư hầu. Luận ngữ – Quý thị: “Hầu chuyện bậc quân tử có ba lỗi: nói chưa tới lượt mình mà đã nói, thế là bộp chộp; nói đã tới lượt mình mà không nói, là giấu giếm; chưa thấy vẻ mặt ra sao mà đã nói, là mù quáng”.

7. Người quân tử có 3 niềm vui (quân tử tam lạc). Mạnh Tử – Tận tâm thượng: “Người quân tử có ba niềm vui mà việc làm vua thiên hạ cũng chẳng dự được vào đấy (chẳng vui bằng). Cha mẹ đều còn, anh em vô sự, đó là một niềm vui. Ngẩng lên không thẹn với trời, cúi xuống không thẹn với người, là hai niềm vui. Có được những anh tài trong thiên hạ mà giáo dục, dạy dỗ là ba niềm vui”.

8. Người quân tử cầu ở mình, kẻ tiểu nhân cầu ở người (quân tử cầu chư kỉ, tiểu nhân cầu chư nhân – Luận ngữ – Vệ Linh công). Đó là hai loại triết học xử thế khác nhau?!

9. Người quân tử không có điều gì phải tranh chấp (quân tử vô sở tranh – Luận ngữ – Bát dật). “Người quân tử không có điều gì phải tranh chấp. Nếu có, ắt là thi bắn cung chăng? Vái chào nhường nhau mà bước lên, rồi xuống mà uống rượu. Đó là sự tranh đua của người quân tử chăng?” Ấy là Nho gia chủ trương một mực giữ lễ, dùng lễ để kiềm chế việc tranh chấp, thung dung nhường nhịn, để duy trì sự ổn định trong xã hội.

Nguồn:huyminh.wordpress.com

Thứ Ba, 2 tháng 8, 2011

SÁI UNG KHÓC ĐỔNG TRÁC.


Sái Ung

Nghe theo lời của Lý Nho, Đổng Trác cho vời Sái Ung. Sái Ung không ra. Trác doạ nếu không ra sẽ giết chết cả nhà. Thế là Ung phải ra..

Trác thừa biết uy tín và tài năng biết điều phải điều trái của Ung trong vụ dâng sớ tố cáo bọn hoạn quan trước đó. Nhưng liệu Trác có cần nghe Ung chỉ bảo cho mình những điều tương tự như thế?.

Đổng Trác
Không đâu. Chân lý của Trác là theo kiểu “Có chính quyền là có tất cả”. Trước văn võ bá quan Trác đã từng tuyên bố:” Việc thiên hạ trong tay tao. Nay tao làm thế đấy, kẻ nào dám không nghe? Hãy nhìn thanh gươm này có sắc hay không!" Thế thì cần gì cái lão Sái Ung kia tư vấn điều này điều nọ về chân lý về lẽ phải…Mọi mưu mô quỷ kế thì đã có Lý Nho rồi.

Thế mà Trác vẫn cần Sái Ung đấy. Trác đã thăng chức cho Ung 1 tháng 3 lần đến chức Thị trung, hậu đãi lớn. Trác quyết tâm biến Sái Ung thành một cây cảnh thực sự tươi tốt để dù sao cũng được tiếng là chiêu hiền đãi sỹ. Thế thôi.

Một điều khó hiểu là: Sái Ung thừa biết tim đen của Trác trong việc sử dụng mình như một cây cảnh. Sái Ung cũng hàng ngày thấy những trò khát máu man rợ của Trác.

Thế mà khi đầu Trác được bêu ngoài chợ, chỉ có một người duy nhất đến khóc là Sái Ung. Khó hiểu không?

Thật sự cũng đâu có gì khó hiểu.

Đâu phải cứ văn tài tột bực thì nhân cách cũng cao quý liền theo. Trần Lâm đấy, thảo hịch giúp Viên Thiệu chửi Tào Tháo không còn cái mủng rách mà khi Thiệu bại lại khúm núm theo hầu Tào, còn tự nhận mình là con chó nhà chỉ biết chủ nó.
Sái Ung thời gian đầu cũng có cốt cách đại nho, chống lại Thập thường thị.Bị cách chức về quê làm ruộng không kham nổi thời buổi thóc cao gạo kém, vợ bìu con ríu đành tặc lưỡi xuôi theo khi Đổng Trác đến mời.Làm việc với Trác,được huấn thị hằng ngày về quyền và nghĩa vụ của trí thức trong thời đại mới,Sái Ung ngẫm ra cái lý sống trên đời rằng một chính quyền ra đời trên mũi súng (xin lỗi,gươm) thì đâu có chỗ cho trí thức.Nếu muốn có vài ký gạo nuôi vợ con thì khôn hồn...Vậy là Ung ta ung dung véo von trong cái lồng son bao cấp của Trác.Trác chết, chư hầu bốn phía nổi như ong, thời buổi kinh tế thị trường đâu còn ai bao cấp.Lười biếng quen thói, sợ đói ăn nên Ung khóc to tiếc những ngày bao cấp xa xưa thôi chứ có gì lạ đâu?