Thứ Hai, 28 tháng 11, 2011

ÔNG TỔ NGÀNH MARKETING DU LỊCH VIỆT NAM



Trạng Quỳnh đãi vua.

Ngành du lịch chúng ta thờ ông tổ nghề marketing là ông Trạng Quỳnh.Ý hẳn các bác có thể băn khoăn mà tự hỏi,cái ông Ba Phi đời đầu,ông Đông Phương Sóc cú áp chót ấy thì liên quan gì đến nghề du lịch mà bảo.Có đấy.
Chuyện rằng năm đó,trên quãng sông nào đấy,trạng ta ngày ngày sang đò (có thể đi học lớp bổ túc,cũng có thể đi tán tỉnh bà Điểm,ai biết được mục đích thật sự của những ông sẽ được phong chức Trạng nay mai),chỉ biết là Trạng có đi đò,và tất nhiên,một người như Trạng không thể làm một cái việc rất chi là đời thường,là trả ba xu tiền đò.Trạng,như bao ông trạng nhan nhản đời nay (nhiều nhất là khu vực Ba Đình),trạng hứa sẽ trả và nhận trách nhiệm về lời hứa đó.Ngày qua ngày lại qua ngày lá xanh nhuộm đã thành ...cây vàng lá,trạng mất khả năng chi trả...
Bị Elliot,à quên,bị cô lái đò đòi và dọa kiện ra tòa,Trạng gãi đầu gãi tai và hẹn...lần này thì hẹn đến ngày mỗ...tháng mỗ.
Đến ngày ấy,Trạng dựng một cái chòi giữa sông,và cho lính đi rao khắp nơi rằng trạng sẽ bán thơ (tất nhiên sau này bác Nguyễn Duy cũng đua nóng với Trạng về khoản này)...
Dân ta,tất nhiên là rất mê thơ...Nhà nhà làm thơ,ngành ngành xuất thơ,quát thơ vào tai nhau đến nỗi nhà thơ Tạo buộc ai muốn đọc thơ mình phải nộp phí nhuận nghe để trả tiền nhậu nhưng cuối cùng khuya nào ông Tạo cũng bò lết về nhà mà chưa kịp đọc bài nào...Chả thế mà Quốc hội suýt nữa ban bố Luật nhà thơ...
Dân ta mê thơ,tất nhiên ùn ùn đi xin thơ...Và vì cái chòi ở giữa sông,con đò của cô gái trở nên độc quyền.Và như bao kẻ kinh doanh độc quyền khác,cô luôn luôn...than lỗ,và luôn luôn đề nghị tăng giá vì không thể kéo dài cái sự đau lòng với mức lương 7.3 triệu một tháng...
Sao mình cứ hay lan man thế nhỉ,rõ chán.Đi luôn vào nội dung thơ đi nào.Hôm đó,ai nấy chen lấn vào chòi cũng được nhận một câu:"Ai xem thơ Quỳnh bú c...Quỳnh" gói cẩn thận trên giấy...dó.
Ai nấy tím mặt,và ngượng...mặc dù nhiều kẻ hâm mộ thần tượng đến độ xem chuyện bợ đít liếm gót thần tượng không đến nỗi là nhiệm vụ bất khả thi cũng không thể nuốt trôi quả này được...Thế là họ quyết tâm trở thành kẻ tuyên truyền không công cho Trạng,không,đúng hơn là hầu bao cô lái đò.
Ai hỏi thơ hay thơ dở thế nào họ cũng không nói,chỉ bảo sang đấy sẽ biết...Và thiên hạ ùn ùn...
Và Trạng đã trở thành ông tổ nghề du lịch Việt nam hiện đại như thế đó.
Chỉ biết,ngày nay slogan ngành du lịch Việt nam có câu:"Đến ngay,trước khi chúng tôi phá sạch" cũng hay.

Thứ Sáu, 18 tháng 11, 2011

Ý ÔNG NGHỊ PHƯỚC LÀ...

Ông nghị Phước đăng đàn hùng hồn:...biểu tình xưa nay chỉ để chống chính phủ.Ô,đúng quá,ít khi có ai khi không xuống đường ủng hộ chính phủ cái việc đáng phải làm,trừ phi đất nước lâm nguy,sắp có chiến tranh giữ gìn bờ cõi.
Từ đó ông Phước biểu rằng không nên ban hành Luật biểu tình.Ý ông là chính phủ ta bao giờ cũng sáng suốt,cũng đúng,mọi thứ đã được chính phủ giải quyết ngon lành cành đào rồi.Nên biểu tình chống chính phủ là ...phản động.Thế thôi. Mà phản động thì tất nhiên...cấm.
Nhưng chắc ông cũng thấy (nếu ông không thấy thì đừng mơ làm đặc sứ của Saddam) là những nước cấm biểu tình hiện tại đứng ở đâu trong thế giới văn minh nhé.

Chủ Nhật, 6 tháng 11, 2011

BÀI VĂN "LẠ"


Thư gửi mẹ.

Mẹ thân yêu của con !

“Trời ơi là trời ! Anh ăn đi cho tôi nhờ, đừng có nhịn ăn sáng nữa. Đừng có dở hơi đi tiết kiệm mấy đồng bạc lẻ thế, anh tưởng rằng thiếu tiền như thế thì tôi chết à ?”. Đó là những “điệp khúc” mẹ cất lên hàng ngày dạo gần đây vì con quyết định nhịn ăn sáng đi học để tiết kiệm chút tiền cho mẹ, cho gia đình. Có lúc mẹ còn gắt lên, hỏi con “Sao cứ phải đắn đo khổ sở về tiền đến thế nhỉ ?” .

Mẹ ơi, những lúc ấy mẹ đang giận nên con không dám cãi lại. Nhưng giờ đây con muốn được bày tỏ lòng mình rằng tại sao con lại có những suy nghĩ, hành động kì lạ như vậy. Vâng, tất cả là vì tiền. Chỉ đến tận bây giờ con mới nhận ra cả một quãng thời gian dài trước đó con đã non nớt, ngây thơ biết chừng nào khi nghĩ về tiền. Cách đây 8 năm bệnh viện đã chuẩn đoán mẹ bị suy thận mãn tính độ 4 (độ cao nhất về suy thận). 8 năm rồi nhà ta đã sống trong túng thiếu bần hàn, vì bố mẹ không kiếm được nhiều tiền lại phải dành tiền cho mẹ đi chạy thận. Nhưng bố mẹ vẫn cho con tất cả những gì có thể, và cậu bé học trò như con cứ vô tư đâu biết lo gì.

Hồi học tiểu học, tiền bạc đối với con là một cái gì đó rất nhỏ, nó là những tờ giấy với đủ màu có thể dùng để mua cái bánh, cái kẹo, gói xôi hay cái bánh mì … Con đâu có ngờ tiền chính là yếu tố quyết định sinh mạng mẹ mình, là thứ bố mẹ phải hàng ngày chắt bóp và bao người thân gom góp lại để trả cho từng ca lọc máu cho mẹ tại bệnh viện Bạch Mai, là thứ càng làm mẹ thêm đau đầu suy nghĩ khi mẹ buộc phải nghỉ việc làm vì điều kiện sức khỏe không cho phép.

Rồi đến khi con học lớp 8, mẹ càng ngày càng yếu và mệt, phải tăng từ 2 lên 3 lần lọc máu/ tuần. Những chỗ chích ven tay của mẹ sưng to như hai quả trứng gà, nhiều hôm máu thấm ướt đẫm cả tấm băng gạc. Do ảnh hưởng từ suy thận mà mẹ còn bị thêm viêm phổi và suy tim. Rồi ông lại bị ốm nặng, bố phải nghỉ việc ở nhà trông ông, nhà mình vì thế càng trở nên túng quẫn, mà càng túng thì càng khổ hơn. Tờ một trăm ngàn hồi ấy là một thứ gì đó xa xỉ với nhà mình. Cũng từ dạo ấy, đầu óc non nớt của con mới dần vỡ lẽ ra rằng tiền bạc chính là mồ hôi, nước mắt, là máu (theo đúng nghĩa đen của nó, vì có tiền mới được chạy thận lọc máu mà) và bao nỗi niềm trăn trở lo lắng của bố và mẹ.

Hôm trước con có hỏi quan điểm của mẹ về tiền bạc thế nào để con có thêm ý viết bài làm văn nghị luận cô giao. Mẹ hơi ngạc nhiên vì câu hỏi đường đột ấy. Rồi mẹ chỉ trả lời với 3 từ gọn lỏn “Mẹ ghét tiền”. Nếu con còn thơ dại như ngày nào, hay như một người ngoài nào khác thì chắc con đã ngạc nhiên lắm. Nhưng giờ đây con cũng đồng ý với mẹ : con cũng ghét tiền. Bởi vì nó mà mẹ phải mệt mỏi rã rời sau mỗi lần đi chạy thận. Mẹ chạy thận 3 lần mỗi tuần, trước đây bố đưa đón mẹ bằng xe đạp nhưng rồi mẹ bảo đi thế khổ cả hai người mà còn phải chờ đợi mất ngày mất buổi của bố nữa nên mẹ chuyển sang đi xe ôm. Nhưng đi xe ôm mất mỗi ngày mấy chục, tốn tiền mà lại chẳng kiếm đâu ra, mẹ quyết định đi xe buýt. Mỗi khi về nhà, mẹ thở hổn hển, mẹ lăn ra giường lịm đi không nói được câu gì. Con và bố cũng biết là lúc ấy không nên hỏi chuyện mà nên để yên cho mẹ nghỉ ngơi. Tám năm rồi, tám năm chứng kiến cảnh ấy nhưng con vẫn chưa bao giờ có thể quen được. Con chỉ biết đứng từ xa nhìn mẹ, và nghiến răng ước “giá như có dăm chục ngàn cho mẹ đi xe ôm thì đâu đến nỗi !”.

Con bỗng ghét, thù đồng tiền. Con bỗng nhớ hồi trước, khi mẹ vẫn nằm trong viện. Ba người bệnh chen chúc chung nhau một chiếc giường nhỏ trong căn phòng bệnh ngột ngạt và quá tải của bệnh viện Bạch Mai. Con đã ngây thơ hỏi mẹ “Sao mẹ không vào phòng bên kia, ở đấy mỗi người một giường thoải mái lại có quạt chạy vù vù, có tivi nữa ?”. Mẹ chỉ nói khẽ “cha tổ anh. Đấy là phòng dịch vụ con ạ”. Con lúc ấy chẳng hiểu gì. Nhưng rồi con cũng vỡ lẽ ra rằng đó là phòng mà chỉ những ai rủng rỉnh tiền thì mới được vào mà thôi. Còn như mẹ thì không được. Con căm nghét đồng tiền vì thế.

Con còn sợ đồng tiền nữa. Mẹ hiểu con không ? Con sợ nó vì sợ mất mẹ. Mẹ đã phải bốn lần đi cấp cứu rồi. Những người suy thận lâu có nguy cơ tử vong cao vì huyết áp dễ tăng, máu dồn vào dễ làm tắc ống khí quản và gây tắc thở. Mẹ thừa biết điều này. Nhiều người bạn mẹ quen trong “xóm chạy thận” đã phải chịu những cái kết bi thảm như thế. Nhiều đêm con bỗng choàng tỉnh dậy, mồ hôi đầm đìa mà lạnh toát sống lưng bởi vừa trải qua một cơn ác mộng tồi tệ …

Con sợ mẹ lại phải đi cấp cứu, và sợ nhỡ nhà mình không đủ tiền để nộp viện phí thì con sẽ mất đi người thân yêu nhất trong cuộc đời này. Mỗi buổi mẹ đi chạy thận là mỗi buổi cả bố và con đều phấp phỏng, bồn chồn, lo lắng. Mẹ về muộn là lòng con nóng như lửa đốt, còn bố thì cứ đi đi lại lại và luôn hỏi “bao giờ mẹ mày mới về?”. Với con cơ hội là 50/50, hoặc là mẹ chạy thận an toàn và về nhà, hoặc là …

Con lo sợ hơn khi đọc báo thấy bảo có người không đủ tiền trả phần ít ỏi chỉ là 5% bảo hiểm y tế, tiền thuốc men mà phải về quê “tự điều trị”. Với những bệnh nhân phải chạy thận, như thế đồng nghĩa là nhận bản án tử hình, không còn đường sống. Con bỗng hoảng sợ tự hỏi nếu không còn BHYT nữa thì sao? Và nếu ông mất thì sao? Chi tiêu hàng ngày nhà mình giờ đây phần nhiều trông chờ vào tiền lương hưu của ông, mà ông thì đã già quá rồi …

Mẹ ơi, tiền quan trọng đến thế nào với gia đình mình thì chắc mẹ hiểu rõ hơn con. Cứ nghĩ đến tiền là con lại nhớ đến những đêm bố mất ngủ đến rạc cả người, nhớ đến những vết chích ven sưng to như quả trứng gà của mẹ, nhớ đến cả thìa đường pha cốc nước nóng con mang cho mẹ để mẹ uống bồi bổ mỗi tối. Mẹ chắt chiu đến mức sữa ông thọ rẻ tiền mà cũng không mua để tự bồi dưỡng sức khỏe cho mình.

Con sợ tiền mà lại muốn có tiền. Con ghét tiền mà lại quý tiền nữa mẹ ạ. Con quý tiền và tôn trọng tiền bởi con luôn biết ơn những người hảo tâm đã giúp nhà mình. Từ những nhà sư tốt bụng mời mẹ đến chùa vào cuối tuần, những cô bác ở Hội chữ thập đỏ quyên góp tiền giúp mẹ và gia đình mình. Và cả những người bạn xung quanh con, dù chưa giúp gì được về vật chất, tiền bạc nhưng luôn quan tâm hỏi thăm sức khỏe của mẹ… Nhờ họ mà con cảm thấy ấm lòng hơn, vững tin hơn.

Con cảm thấy bất lực ghê gớm và rất cắn rứt lương tâm khi mẹ không đồng ý với các kế hoạch của con. Đã có lúc con đòi đi lao động, đi làm gia sư hay đi bán bánh mì “tam giác” như mấy anh sinh viên con quen để kiếm tiền giúp mẹ nhưng mẹ cứ gạt phăng đi. Mẹ cứ một mực “tống” con đến trường và bảo mẹ chỉ cần con học giỏi thôi, con giỏi thì mẹ sẽ khỏe.

Vâng, con xin nghe lời mẹ. Con vẫn đến trường. Con sẽ cố gắng học thật giỏi để mẹ và bố vui lòng. Nhưng mẹ hãy để con giúp mẹ, con đã nghĩ kĩ rồi, không làm gì thêm được thì con sẽ nhịn ăn sáng để tiết kiệm tiền. Không bán bánh mì được thì con sẽ ăn cơm với muối vừng. Mẹ đừng lo mẹ ạ, mẹ hãy an tâm chạy chữa và chăm sóc cho bản thân mình. Hãy để con được chia sẻ sự túng thiếu tiền bạc cùng bố mẹ. Vậy con khẩn thiết xin mẹ đừng cằn nhằn la mắng con khi con nhịn ăn sáng. Mẹ đừng cấm đoán con khi con đi lấy chầy, cối để giã lạc vừng. Dù con đã sút 8 cân so với năm ngoái nhưng con tin rằng với sự thấu hiểu lẫn nhau giữa những người trong gia đình thì nhà ta vẫn có thể sống yên ổn để đồng tiền không thể đóng vai trò cốt yếu trong việc quyết định hạnh phúc nữa.

Đứa con ngốc nghếch của mẹ

Nguyễn Trung Hiếu

Trên đây là bài văn của học trò Nguyễn Trung Hiếu, hiện là học sinh lớp 11 chuyên lý, trường trường Ams (THPT chuyên Hà Nội - Amsterdam). Bài văn “lạ” trước hết bởi đề bài văn nghị luận cô giao là “Nêu quan điểm của anh (chị) về vai trò của đồng tiền trong cuộc sống”, thay vì trình bày chung các quan điểm thì Hiếu đã lấy ngay câu chuyện thật đang phải trải qua của gia đình mình để nhìn nhận, phân tích vai trò của đồng tiền.

Bài văn của em đã lật tung quan niệm bấy lâu nay của nhiều người coi trường Ams là trường “của con nhà giàu” (!?). Nhìn cách tiêu xài hay xe cộ sử dụng để đến trường của một bộ phận học sinh trường Ams, rất nhiều người cứ nhầm tưởng như thế. Chỉ những thày cô giáo đang công tác ở trường Ams mới hiểu rõ đó là ngộ nhận. Trường THPT chuyên Hà Nội - Amsterdam là nơi quy tụ các học sinh giỏi, còn trong hàng nghìn học sinh đang theo học ở trường cũng có rất nhiều hoàn cảnh, số phận. Và trường hợp em Nguyễn Trung Hiếu là một ví dụ.

Tuy nhiên, bài văn của Hiếu cũng đã gây “sốc” với ngay chính nhiều thày cô đang giảng dạy tại trường bởi hoàn cảnh của gia đình em. Và hơn thế, các thày cô rất khâm phục ý chí nghị lực của cậu học trò nghèo nhưng học giỏi này. Hiếu chưa nằm trong tốp học sinh xuất sắc của trường, nhưng cũng là một học sinh khá thông minh. Năm học vừa qua em đã đoạt giải nhì trong kì thi Olympic vật lí và cuối năm được cô giáo chủ nhiệm nhận xét trong học bạ là học sinh học giỏi đều các môn học.

Đến thăm gia đình em mới thấy hoàn cảnh gia đình quả rất khó khăn. Mẹ Hiếu (chị Nguyễn Thị Hạnh) bị suy thận mãn tính nặng phải chạy thận đã 8 năm. Bố Hiếu (anh Nguyễn Xuân Sơn) sức khỏe kém, theo bà nội em kể thì bố em từ nhỏ bị viêm tai giữa, đến khi phát hiện máu chảy ra đằng tai mới cho đến bệnh viện thì đã muộn, bác sĩ nói đã “ăn vào não” và để lại di chứng là trí nhớ và sức khỏe bị giảm sút, không có khả năng lao động. Bà nội Hiếu đã cao tuổi mắt lòa. Mọi chi tiêu cho 5 người trong gia đình Hiếu ở giữa Hà Nội trong thời buổi giá cả leo thang đều chủ yếu trông chờ ở số lương hưu ít ỏi của ông nội em - một cựu quân nhân hiện đang ốm nằm liệt giường …

Cảm thông với gia cảnh của em, Ban giám hiệu nhà trường đã phát động phong trào “Nhà giáo trường Ams đỡ đầu cho học sinh nghèo, học sinh có hoàn cảnh đặc biệt”. Sau một tháng triển khai, tính đến trung tuần tháng 10/2011, ban vận động đã nhận quyên góp và chuyển tới em Nguyễn Trung Hiếu số tiền là 12,9 triệu đồng và một bộ laptop. Ngoài ra, để có nguồn tài chính ổn định và giúp em Hiếu có điều kiện học tập nâng cao trình độ các thày cô còn có hình thức chia sẻ phong phú khác như trích lương “tặng hàng tháng” cho em Hiếu 450 ngàn đồng; thày Nguyễn Trọng Tuấn nguyên hiệu phó nhà trường cam kết cho em Hiếu vay hàng tháng 500 ngàn đồng cho đến khi học hết lớp 12; còn cô Nguyễn Thúy Hằng giáo viên toán thì tặng em một suất học bổng cho tất cả các môn học ở trung tâm “Học mãi”… Hiện nay cuộc vận động vẫn tiếp tục được triển khai.

Nguyễn Trung Hiếu cho biết em rất xúc động trước tình cảm các thày cô dành cho em và gia đình. Em không còn phải nhịn ăn sáng để đi học nữa. Em tự hứa sẽ thật cố gắng để giành thành tích cao hơn trong học tập nhằm vượt lên số phận và để ngày mai lập nghiệp, không phụ lòng mong mỏi của các thày cô, của gia đình …
Vũ Quốc Lịch
(Giáo viên trường THPT chuyên Hà Nội Amsterdam)


Nguồn:dantri.com.vn

Thứ Ba, 1 tháng 11, 2011

PHƯƠNG CÁCH TƯ DUY:HỆ THỐNG TRI THỨC MỞ

Kể từ khi bước vào quá trình đổi mới, rồi hội nhập toàn cầu hóa, xã hội Việtnam đã đi được một chặng đường rất quan trọng, dẫu còn bao nhiêu việc phải làm trước mặt. Huấn luyện viên trưởng của đội tuyển bóng đá Việt nam không phải là đảng viên, không có quốc tịch Việtnam, không phải người thuộc một « đất nước anh em » truyền thống, không phải là một nhà huấn luyện phong trào : ông ta là một huấn luyện viên Tây Âu nhà nghề. Cái gì đã xảy ra vậy ? Có quan trọng không ?

Cực kì quan trọng !

Xã hội Việtnam đã đi được một bước khổng lồ đầu tiên trên thực tiễn : từ phương cách tư duy ý thức hệ chuyển sang các hệ thống hiểu biết mở, phi độc đoán. Con đường đã mở ra đó mời gọi xã hội tiếp bước, một cách bình thản, sáng tạo, từ tốn, bao dung, nhưng dứt khoát.

Đêm dài trung cổ

Tất cả các xã hội trên thế giới đều đã từng được ninh nhừ trong các nồi hầm « đêm dài trung cổ ». Không cần phải giải thích dài dòng, nguyên tắc lớn nhất là mỗi con người của các xã hội đó không cần và không có quyền được có các suy nghĩ riêng về các cư xử tổ chức xã hội : hãy làm theo cái mà bề trên yêu cầu. Bề trên là tập tục, là giáo lý tôn giáo, là giáo chủ. Trong xã hội Á Đông xưa thì vua chúa thường đóng luôn vai giáo chủ này. Chỉ có một hệ ý thức đơn giản đóng vai trò uốn nắn cách nghĩ cho muôn dân.

Chuyển đoạn ý thức hệ

Với các tiến bộ về tinh thần, khoa học, công nghệ, các xã hội dần dà cựa mình. Con người hiểu dần ra giới tự nhiên và tìm cách khai thác, « chinh phục » các sức mạnh của tự nhiên. Nhưng con người chậm hiểu được nhất về chính bản thân mình, về tổ chức xã hội và tinh thần của mình, để rồi hẵng nói đến chuyện cải tiến chúng. Con người thường phải đi qua một giai đoạn đặc biệt như một hình thái khác chưa kết thúc của đêm dài trung cổ, giai đoạn chuyển mình mang tính ý thức hệ : người ta bắt đầu ý thức về hệ thống ý thức chính thống, nghi ngờ mặc cả với nó, nhưng chưa biết làm sao để vượt lên khỏi chính nó. Giai đoạn này dài hay ngắn tùy thuộc vào sức thức tỉnh, khả năng học hỏi, và năng lực tự tái tổ chức tiến hóa của các cộng đồng. Giai đoạn ý thức hệ này thường mang những đặc điểm như sau trong các ý thức cộng đồng.

Một hệ thống cắt nghĩa giữ vai trò độc tôn. Hệ thống này hình thành tùy theo các điều kiện tôn giáo, văn hóa, lịch sử… mà có các hình hài khác nhau ở các cộng đồng khác nhau. Điểm chung là hệ thống này mang tính độc tôn, không dung dưỡng các hệ thống lý giải khác cùng tồn tại.

Đức tin được đặt lên trên sự nghi ngờ. Các tư duy, các phán xét đặt lại các vấn đề đều bị xã hội coi như lạc đàn, phản xây dựng, làm hao mòn đức tin.

Vùng cấm địa. Ngay cả những tư duy chấp nhận hệ thống chính thống cũng bị cấm động chạm đến những vấn đề thuộc về những vùng cấm địa.

Đóng kín. Ngay cả những suy tư theo hệ thống chính thống cũng không được phép mở rộng các quan sát ra những hiện thực « bên ngoài kia ». Ví như hệ thống chính thống cho rằng « đạo Hồi phải là nền tảng của pháp luật» thì không ai có thể đặt vấn đề một nền pháp luật tồn tại bên ngoài đạo Hồi.

Chân lý tuyệt đối. Một phức hợp các chân lý tuyệt đối thường được đăng quang, mọi suy nghĩ và thảo luận chỉ được phép đóng vai trò thuyết trình cho những chân lý ấy.

Phi thời gian. «Tri thức » của hệ thống chủ đạo có tinh thần « một lần cho mãi mãi », hướng dẫn mọi tìm hiểu, giải thích toàn bộ lịch sử, hôm qua, hôm nay, hôm mai, một cách bất chấp thời gian.

Chống sợ hãi. Loại bỏ một cách mơ hồ sự sợ hãi trước mọi vùng chưa hiểu biết được. Hệ thống này đặt vấn đề bào chữa cho các quan sát của mình về thế giới trước khi tìm hiểu nó. Nó làm như mình có sẵn mọi câu trả lời cho những nỗi lo sợ triền miên của con người, từ như cái chết, sự mờ mịt về tương lai, cho đến sự lo lắng về thế giới rộng mở xung quanh, về những phiêu lưu mới sẽ phải trải qua trên đường đời…

Quyền lực tuyệt đối. Thực chất quyền lợi của nhóm lợi ích thắng thế được trình bày thành lợi ích chung bất khả thương nghị.

Bất chấp mâu thuẫn. Mọi mâu thuẫn, bất kể thuộc lĩnh vực nào, đều được dung nạp và tái giải thích gắng gượng trong hệ thống này. Khi đời sống phức tạp lên, hệ thống này tích nạp mọi điều vô lý và thúc đẩy sự rối loạn suy tư trong xã hội.

Vô chính phủ. Như một hệ quả cực đoan, xã hội hình thành song song trong nó tính vô trật tự, « vô chính phủ » trong nhận thức, ngay cả trong giới cầm chịch.

Tính thủ pháp. Tính chất này ngày càng được đề cao trong thực tế để gi ải quyết các công việc theo tính vụ việc cần kíp tức thì, do bản thân hệ thống này khó lòng giải quyết được việc lý giải ổn thỏa.

Tuyên truyền lấn át thông tin. Nhiều khi người ta phải thông qua các tuyên truyền để đoán ra các thông tin, đoán ra cái gì đó mới xảy ra. Xã hội đồn đoán phát triển thay thế cho xã hội được thông tin, mê tín thay thế sự phân tích lý tính.

Ngôn ngữ chết cứng là điều thường nhận thấy. Khi hệ thống không đảm đương được tính thuyết phục nữa, nó đành chỉ quan tâm đến mục đích ngắn nhất theo cách khiên cưỡng bất chấp. Phép ngụy biện khi này được lạm dụng dễ dãi.

Khoa học luận trở nên sáo ngữ hàn lâm, và được sử dụng khắp nơi để trang trí cho sự thiếu hiểu biết, mang tính lấn lướt, lạm niệm.

Thái độ thù địch với các thay đổi thường được thể hiện thường trực, thay vì tinh thần sẵn sàng vươn tới tìm hiểu những cơ hội mới. Tính phải đạo và sự vâng lời được đề lên thành chuẩn mực.

Yếu tố lý trí tập thể được đẩy lên thành phản xạ. Xúc cảm được đặt ở vị trí thống trị đối với phân tích lý tính.

Tính nhận thức cắt rời lịch sử được kích hoạt, làm như người ta đang sống và suy nghĩ, hành động trong một cuộc đảo lộn tẩy não vĩ đại về nhận thức. Các yếu tố của giáo lý vừa được đánh bóng, vừa được hiển nhiên hóa, nhàm hóa, phổ thông hóa.

Cuối cùng sự tôn thờ giả-đồng-thuận được đẩy lên thành thiêng liêng.

Hội nhập toàn cầu : các hệ thống hiểu biết mở, phi độc đoán

Xã hội phát triển, cởi mở, hội nhập toàn cầu, tự do hóa các lưu chuyển vốn, công nghệ, nhân lực… đưa con người đến một thực tế mới. Đời sống trở nên năng động, phong phú, đa dạng, phức hợp.

Con người dần từ bỏ ảo ảnh rằng mình luôn luôn đã là người biết hết mọi chuyện, đã nhận rõ tương lai rốt cùng, và luôn luôn thắng cuộc.

Con người học chung sống, học hợp tác, giữa mọi cá nhân và các tổ chức, ở phạm vi trong nước và toàn cầu. Khối tri thức của nhân loại chui vào trong từng máy tính, trong từng điện thoại thông minh của từng con người, và mỗi con người đó lại có thể đang dịch chuyển trong các không gian công việc hay đời sống của nền chính trị-kinh tế-xã hội của toàn cầu len lỏi khắp ngóc ngách mọi nơi.

Con người cùng xã hội của anh ta buộc phải trở nên dũng cảm hơn, và khiêm tốn hơn. Anh ta cùng xã hội phải học cởi mở, học suy nghĩ phi độc đoán, học tích hợp các hệ thống hiểu biết cần thiết, để thành công công việc trong các cộng đồng phức hợp, và để có được hạnh phúc của đời sống cá nhân và hạnh phúc của đời sống cộng đồng./.

Nguồn:nuocdenchan.com

Chủ Nhật, 30 tháng 10, 2011

HILLARY CLINTON NÓI VỀ LIBYA,TRUNG QUỐC,TRUNG ĐÔNG VÀ BARACK OBAMA


Tạp chí Time phỏng vấn Ngoại trưởng Hillary Clinton hôm 19-10-2011

Richard Stengel, phụ trách bộ phận biên tập của Tạp chí TIME đã phỏng vấn Ngoại trưởng Mỹ Hilary Clinton hôm 19 tháng 10 năm 2011. Tạp chí TIME số ra ngày 27/10/2011 trích đăng nội dung chính của cuộc phỏng vấn theo dạng ghi chép lại ghi âm phỏng vấn của Richard Stengek. Những chỗ in nghiêng là phần câu hỏi của TIME)

Phạm Anh Tuấn dịch



Xin cảm ơn bà rất nhiều vì đã nhận lời trả lời phỏng vấn. Chúng ta hãy bắt đầu với chuyến công du vừa rồi của bà (tới Libya, Oman, Afghanistan và Pakistan).

Vâng, xin mời.

Tôi nghĩ những nhận xét của bà về Libya là rất phấn khởi, lạc quan. Có phải đó là sự lạc quan về những gì nước Mỹ đã làm ở Libya, có phải là bà lạc quan bởi vì đây là một mô hình cho sự tham gia của nước Mỹ trong tương lai?

Thế này vậy, hãy để tôi nhắc lại một chút về giai đoạn trước đó để đặt Libya trong một hoàn cảnh mà tôi nghĩ có thể giải đáp câu hỏi trên của ông. Một phần sứ mệnh của tôi là phải giải thích rõ với các nước rằng nước Mỹ đang lấy lại vai trò lãnh đạo thế giới. Khi bắt đầu trở thành Ngoại trưởng tôi thấy các nước thân Mỹ, các đồng minh, và các nước trên khắp thế giới đều đang có rất nhiều những mối hoài nghi, rất nhiều những lo ngại và sợ hãi. Và một phần những gì tôi đã cố gắng làm trên cương vị Ngoại trưởng ấy là phải tái khẳng định vai trò lãnh đạo của nước Mỹ, song phải thừa nhận rằng trong những điều kiện của thế kỷ XXI này thì nước Mỹ phải lãnh đạo theo cách khác chứ không phải theo cách nước Mỹ đã từng làm trong lịch sử.

Và thoạt đầu thì có lẽ người ta thấy hơi khó hiểu khi thấy mục tiêu của tôi là khẳng định vai trò lãnh đạo của nước Mỹ theo cách tôi tập trung vào những giá trị quan trọng nhất của nước Mỹ, tức là tôi sử dụng những công cụ và phương pháp mới mẻ về ngoại giao và phát triển hiện đang có hiệu lực, có thể được gọi là sử dụng sức mạnh một cách khéo léo, nhằm xây dựng các mối liên minh và mạng lưới liên kết bền vững hơn. Và đây là một trong những mục tiêu của tôi trong thời gian sau đó, trong một chừng mực đáng kể, tôi đã làm thay đổi cách thức làm ăn của nước Mỹ và kết hợp khéo léo hơn những đòi hỏi về vai trò lãnh đạo hiện nay của nước Mỹ với cái cách thức chúng ta đang khẳng định sức mạnh của mình.

Như vậy nghĩa là tôi đã đến châu Á trước tiên, bởi vì đó là vùng đất của cơ hội, chứ không chỉ là vùng đất của những mối đe dọa. Hiển nhiên là gần một thập kỷ nay thì những mối đe dọa và nguy hiểm đều tập trung ở đó, điều này là có thể hiểu được, và chúng ta không được phép để cho bị xao nhãng khỏi điều đó. Nhưng chúng ta phải nhìn vào những cơ hội ở các nước trong khu vực đó, nhất là những cơ hội cho vai trò lãnh đạo của nước Mỹ, những cơ hội phát triển kinh tế v.v. và chúng ta phải có cách nghĩ khác về cách chúng ta lãnh đạo.

Như vậy là những mục tiêu nói trên đã đưa tôi đến với Mùa Xuân Ả Rập, đến với cuộc Thức tỉnh Ả Rập. Libya cho nước Mỹ một cơ hội để chứng minh thế nào là thực sự tập hợp một sự cam kết mạnh mẽ do Hoa Kỳ dẫn đầu, thế nào là thực sự tin tưởng vào sự cam kết đó nhưng mà phải là sự cam kết bằng sự tham gia trọn vẹn của cả những đồng minh mới mẻ nữa chứ không chỉ những đồng minh quen thuộc của nước Mỹ. Và phải kiên nhẫn xây dựng sự cam kết đó, như điều chúng ta đã làm được, tôi nghĩ đó là điều đã củng cố vị thế của nước Mỹ. Như ngày hôm qua ông đã chứng kiến đấy, người Libya hoàn toàn không còn nghi ngờ việc chúng ta có mặt ở đó là vì họ và chúng ta đã đảm bảo vai trò lãnh đạo mà họ cần đến trong cuộc đấu tranh vì tự do.

Hãy nhìn cái cách chúng ta xử lý Mùa Xuân Ả Rập, chúng đang cố gắng gây ảnh hưởng tới việc cai quản đất nước Libya, với sự hoàn toàn thừa nhận rằng họ tự chủ trong công việc quản lý đất nước của họ và chúng ta không kiểm soát họ. Có vô số những sự kiện xảy ra mà không thể lường trước được, song chúng ta muốn lãnh đạo bằng những giá trị và những lợi ích của nước Mỹ, bất chấp tình hình sẽ diễn biến theo con đường nào trong thập niên sắp tới, theo cách người dân Libya sẽ hiểu được rằng nước Mỹ luôn đứng về phía của dân chủ, của pháp trị, đứng về phía của cơ hội kinh tế, đứng về phía của các quyền dành cho tất cả mọi người, đặc biệt là phụ nữ. Và tôi hy vọng rằng điều này sẽ là một liều thuốc giải độc hiệu nghiệm cho những tiếng nói xuất phát từ chủ nghĩa định mệnh hoặc xuất phát từ chủ nghĩa cực đoan quá khích…

Và bằng câu trả lời, nước Mỹ đã làm được rất nhiều điều, đầu tiên là ở Ai Cập và Tunisia và tất nhiên là ở Libya, mỗi nơi theo cách khác nhau tùy thuộc vào tình hình cụ thể của mỗi nước, nhưng tôi tin rằng chúng ta đã xây dựng được một mô hình tốt về cách nước Mỹ muốn giúp đỡ các nước khác trong khi vẫn thừa nhận những giới hạn chúng ta có thể sẽ đạt được.

Chúng ta có cần đến một cách diễn đạt mới về vai trò lãnh đạo của nước Mỹ? Bởi vì sau sự can thiệp vào Libya thì Tổng thống đã bị chỉ trích từ một số người thuộc Đảng Cộng hòa, rằng Tổng thống đã lãnh đạo từ phía sau, để dùng cách nói của những người chỉ trích. Chúng ta đã quá quen với cách nói rằng nước Mỹ là nhất. Chúng ta có cần một cách nói khác nào đó để nói về chuyện này?

Tôi nghĩ đây là một câu hỏi thú vị. Dĩ nhiên tôi phản đối cơ sở lập luận nói trên, bởi vì tôi nghĩ là nước Mỹ hoàn toàn đóng vai trò lãnh đạo ở tuyến đầu. Nếu không có nước Mỹ thì làm gì có những nghị quyết của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc. Nếu không có nước Mỹ thì làm gì có sự can thiệp quân sự mạnh mẽ để góp phần hoàn tất mọi việc. Nếu không có nước Mỹ thì tôi nghĩ mọi chuyện đã diễn ra theo cách khác chứ không phải như bây giờ. Nhưng tôi cũng tin rằng chúng ta sẽ còn mạnh hơn nữa nếu chứng tỏ rành mạch rằng nước Mỹ không chỉ vẫn đang giữ vai trò lãnh đạo mà nước Mỹ còn thuyết phục được nhân dân đi theo.

Đúng vậy.

Tôi nghĩ một trong những câu hỏi lớn tôi chắc chắn đã đối mặt khi bắt đầu làm Ngoại trưởng ấy là: được, nước Mỹ đã sẵn sàng giữ vai trò lãnh đạo, vậy các nước khác đã chuẩn bị sẵn sàng cùng nước Mỹ tìm kiếm bất kỳ một chương trình nghị sự nào hay chưa? Đã có rất nhiều sự đổ vỡ trong các mối quan hệ của chúng ta và đã xảy ra một xu hướng là có nước đã thu mình lại hoặc giả cho là nước Mỹ chắc chắn sẽ không giữ trọn vẹn cam kết đâu, chưa nói gì tới người ta còn cho là nước Mỹ đang giành giật vai trò lãnh đạo. Cuộc khủng hoảng kinh tế đã khiến cho rất nhiều người tự hỏi liệu nước Mỹ có lấy lại được vai trò lãnh đạo của mình hay không.

Tôi nghĩ ông đã dùng cách nói rất khéo khi đặt câu hỏi trên, nhưng tôi cho đây mới là điểm chính yếu: ngày hôm nay chúng ta đang sống trong một thế giới đa cực được liên kết nhiều hơn trước đây rất nhiều. Vậy mà vẫn còn có những người phủ nhận điều này và không chịu thừa nhận thực tế, nhưng tôi không nằm trong số đó. Quan điểm của tôi là nếu muốn làm lãnh đạo thì phải đánh giá thận trọng xem nhân dân đang ở chỗ nào và nhân dân muốn đi tới đâu. Và nếu điều đó trùng với điều chúng ta tin tưởng, thế thì tốt quá; chúng ta có thể đi theo hướng đó và đưa nhân dân đi cùng. Nếu nhân dân tránh xa chúng ta, nếu nhân dân lựa chọn một con đường khác, khi ấy chúng ta buộc phải dùng mọi phương tiện để thuyết phục rằng con đường chúng ta muốn đi cũng là con đường vì lợi ích của nhân dân. Nước Mỹ đã làm được rất nhiều điều như vậy trong hai năm rưỡi qua.

Bà cũng có thể phủ nhận cơ sở lập luận mà tôi sắp nói ra sau đây. Nhưng bà thường xuyên nói về những giới hạn của sức mạnh Mỹ – kể từ bài diễn văn của bà tại Wellesley rồi khi bà trở thành Ngoại trưởng – vậy sức mạnh Mỹ hiện nay có giới hạn trên những phương diện nào so với thời kỳ bà còn làm một Thượng nghĩ sĩ, so với thời bà là đệ nhất phu nhân, thậm chí từ cái thời xa hơn nữa khi bà còn ở Wellesley?

Chà, tôi nghĩ theo định nghĩa thì sức mạnh nào cũng có giới hạn của nó. Tôi không nghĩ trên đời này có điều gì như là sức mạnh tuyệt đối; và những ai định dùng sức mạnh kiểu đó và lãnh đạo bằng sức mạnh kiểu đó, như Gaddafi chẳng hạn, thì rút cục sẽ thấy rằng đó chỉ là một thứ sức mạnh rởm được dùng để lừa bịp người khác (Potemkin village). Còn ở nước Mỹ thì những giới hạn của sức mạnh bao giờ cũng liên quan đến ngân sách. Giờ đây những người kiểu như Gaddafi có lẽ đang ngày càng trở nên cứng rắn hơn so với trước đây, vì thế chúng ta phải khéo léo hơn. Nước Mỹ không thể làm theo kiểu Kế hoạch Marshall trước đây (chương trình viện trợ của Mỹ nhằm tái thiết châu Âu sau Thế chiến II), như vậy thì bằng cách nào chúng ta nhắm tới điều gì là quan trọng đối với nhân dân? Ngày hôm qua ở Libya tôi đã nghe đi nghe lại câu nói này: hãy giúp chúng tôi chăm sóc vết thương; đó là một cách để giúp chúng tôi chữa lành vết thương của dân tộc. Tại sao chúng ta không nhắm tới điều đó và triển khai những nguồn lực theo những cách thức đem lại kết quả?

Chúng ta hiện đang bị hạn chế trong bối cảnh địa chiến lược bởi vì có những nước khác đang nổi lên. Đó là một thực tế lịch sử. Điều này đã từng xảy ra trong những thời điểm khác nhau trong lịch sử. Nhưng dù xảy ra theo cách nào đi nữa thì tôi cũng không coi đó là một sự giới hạn sức mạnh của nước Mỹ. Tôi coi đó như là một thách thức cho việc cách nào chúng ta sử dụng sức mạnh tốt hơn để thúc đẩy an ninh, những lợi ích và những giá trị Mỹ.

Như vậy là chúng ta không thể dùng một cây đũa thần ra lệnh cho Trung Quốc hay Brazil hoặc Ấn Độ rằng “Ngừng tăng trưởng đi, hãy chấm dứt dùng kinh tế để khắng định sức mạnh trong nền kinh tế toàn cầu”. Điều đó thật lố bịch. Và tôi cũng chưa từng thấy có bất kỳ quốc gia nào từng tuân lệnh nước Mỹ. Nước Mỹ bao giờ cũng lãnh đạo bằng những giá trị Mỹ và bằng quan niệm rằng, khác với hầu hết những quốc gia đóng vai trò dẫn đầu khác trong lịch sử thế giới, nước Mỹ không đi ra ngoài để xây dựng một đế chế, nước Mỹ không đi ra ngoài để áp đặt một ý thức hệ lên những ai không mong muốn. Chỉ là do ngẫu nhiên mà nước Mỹ đã có niềm tin rằng nước Mỹ đại diện cho sự nẩy nở trọn vẹn tiềm năng của con người và vì thế nước Mỹ mong muốn dùng mình làm ví dụ minh họa để các nước noi theo, nước Mỹ muốn ủng hộ điều đó và nước Mỹ muốn dẫn đầu để đi tới điều đó.

Vậy có phải bao giờ chúng ta cũng gặp phải những sự câu thúc? Có chứ, dĩ nhiên là vậy, chúng ta luôn luôn gặp phải những sự câu thúc. Sự câu thúc luôn thay đổi theo thời gian và điều này đòi hỏi chúng ta giữ vai trò lãnh đạo sao cho luôn duy trì sự suy nghĩ về ngày mai. Cách nào để nước Mỹ đưa những lợi ích và nhu cầu của mình vào trong tương lai? Mối quan tâm ưu tiên tới tương lai sẽ phải là, nước Mỹ phải là ai, và mối đe dọa lớn nhất đối với chúng ta như là một quốc gia ấy là chúng ta bắt đầu rụt rè và ngoảnh nhìn về quá khứ và thế là chúng ta bắt đầu hoài nghi chính mình và thậm chí chúng ta còn hoài nghi bản thân mình nhiều hơn là niềm tin cậy còn sót lại của những quốc gia khác dành cho chúng ta. Và tôi nghĩ rằng bởi vì tôi đã quá nhiễm đậm cái ý thức về chủ nghĩa biệt lệ Mỹ (American exceptionalism) và niềm tin rằng chúng ta được yêu cầu để giữ vai trò lãnh đạo, cho nên nhiệm vụ của chúng ta là tìm ra cách nào nước Mỹ tự đặt mình vào vị trí hiệu quả nhất tại những thời kỳ khác nhau trước những mối đe dọa và những cơ hội khác nhau.

Bà vừa nói rằng chúng ta đang bước vào thời kỳ nước Mỹ phải có sự tham gia, và tham gia với những điều kiện – đồng thời vượt ra khỏi quan niệm về những sự giới hạn của sức mạnh Mỹ, nhưng dường như đang xuất hiện một mối quan hệ mới mẻ giữa các công dân, điều này là do truyền thông xã hội, do công nghệ truyền thông – cho nên tôi nghĩ là có những mối quan hệ mới mẻ giữa các chính phủ, giữa các công dân và giữa chính phủ với công dân. Liệu đây có phải là điều tích cực rõ rệt dành cho nước Mỹ? Và nếu đúng vậy thì là tại sao? Và cách nào để nước Mỹ khai thác được điều đó?

Tôi nghĩ đó là một điều tích cực dành cho chúng ta. Một trong những mục tiêu của tôi khi nhậm chức Ngoại trưởng là đưa ngoại giao ra khỏi những thủ đô, ra khỏi những văn phòng bàn giấy của Chính phủ, đưa ngoại giao tới những phương tiện truyền thông, tới những đường phố của các quốc gia. Như vậy là ngay từ đầu tháng 2 năm 2009 tôi đã cố gắng kết hợp ngoại giao gặp gỡ ở cấp Chính phủ mang tính bắt buộc, tức là xây dựng những cơ chế để chúng ta đẩy mạnh sự tham gia giữa các Chính phủ, với ngoại giao nhân dân-với-nhân dân. Do truyền thông xã hội, do sự phổ biến của công nghệ truyền thông ở khắp nơi nơi hiện nay cho nên không có người lãnh đạo nào giờ đây có thể phớt lờ nhân dân của mình được nữa.

Đúng vậy.

Bây giờ không còn chỗ cho những nhà lãnh đạo độc đoán, độc tài như trước kia nữa. Lãnh đạo ngày nay bắt buộc phải ý thức được những gì đang sôi sục ở bên dưới. Vì thế tôi cho rằng ngoại giao giờ đây là sự kết hợp của từ-trên-xuống-dưới với từ-dưới-lên-trên, bởi vì nếu nhân dân có một cảm nghĩ tốt hoặc một cách hiểu đúng về chúng ta là ai với tư cách những người Mỹ, thì điều đó sẽ gây ảnh hưởng tới việc điều gì một nhà lãnh đạo có khuynh hướng thiên về hợp tác với chúng ta có thể sẽ làm và đồng thời nó còn phát đi một thông điệp tới những ai không có khuynh hướng hợp tác với chúng ta.

Chẳng hạn, chúng tôi đã bắt đầu ngoại giao như thế này: chúng tôi tiếp xúc với các tòa thị chính và chúng tôi có những cuộc phỏng vấn trước mặt những cử tọa và chúng tôi tiếp xúc rộng rãi với nhân dân và cho họ cơ hội đặt câu hỏi cho chúng tôi. Tôi đã làm ngoại giao theo cách như vậy dựa trên cơ sở những số liệu thăm dò ý kiến cho thấy thế hệ trẻ ở rất nhiều khu vực trên thế giới, châu Á chẳng hạn, thực ra chưa biết nhiều về những gì nước Mỹ đã làm ở cái thời tôi còn đang trưởng thành, đây là điều chúng ta chưa gửi thành thông điệp tới những khu vực rộng lớn trên thế giới trong tám năm qua.

Mặt khác tôi không đưa ra một sự đánh giá hoặc chỉ trích nào. Vấn đề chỉ đơn giản là mọi sự diễn ra như trong thực tế, không làm gì có sự phân loại nước Mỹ là ai, nước Mỹ là gì. Và chiến dịch tranh cử của Barack Obama và tôi đã thực sự thu hút sự chú ý của người dân các nước, và sau đó việc Obama đắc cử Tổng thống là một tín hiệu to lớn tới những người trẻ tuổi. Vì thế khi tôi bắt đầu công du thì chúng tôi đã thực sự có rất nhiều sự tò mò bởi vì nói thật là chúng tôi rất lo ngại trước số liệu thăm dò dư luận cho thấy người dân không phải là có thái độ tiêu cực đối với nước Mỹ mà là có thái độ lãnh đạm đối với nước Mỹ.

Sau vụ khủng bố 11/9, chúng ta đã đóng cửa hệ thống cấp visa, chúng ta đã gây rất nhiều khó khăn cho sinh viên ở khắp nơi tới học ở các trường tại Mỹ. Và các quốc gia khác đã bắt đầu lấp đầy chỗ trống do Mỹ để lại. Sinh viên bắt đầu tới Australia hoặc Trung Quốc hoặc những nước khác. Và như vậy là sự hiểu biết quen thuộc, những sự trao đổi là cái đã từng là dấu hiệu phân biệt quá lâu nay các mối bang giao của nước Mỹ, đã thực sự bị gián đoạn.

Cho nên tôi nghĩ là cái quan niệm cho rằng chúng ta phải truyền thông trực tiếp tới người dân giờ đây là một điều đã được định sẵn. Và khi tôi đặt làm một công trình nghiên cứu trước nay nước Mỹ chưa bao giờ làm về ngoại giao và phát triển, được gọi tên là Quadrennial Diplomacy and Development Review – QDDR (Nghiên cứu định kỳ 4 năm một lần về Ngoại giao và Phát triển), thì nghiên cứu đó đã tập trung rất nhiều vào cách thức chúng ta làm ngoại giao theo cách khác như thế nào, cách chúng ta sử dụng phương tiện truyền thông xã hội như thế nào.

Khi tôi bắt đầu vào Bộ Ngoại giao thì chúng tôi thậm chí còn chưa sử dụng điện thoại BlackBerry rộng rãi. Chúng tôi lúc đó vẫn chưa sử dụng những công cụ truyền thông của thế kỷ XXI. Một trong những lý do là người ta còn chưa chắc chắn liệu chúng có an toàn hay không, đại loại thế. Nhưng thực tế là chúng tôi đã bắt đầu gửi thông điệp trên Twitter và Facebook và tất cả những loại công cụ có tầm vươn xa khác. Và chúng tôi đã bắt đầu nói với các nhân viên ngoại giao, đặc biệt là những người trẻ tuổi: “Nào, hãy ra ngoài và chuyện trò.” Vì vụ 11/9 nên chúng ta đã thu mình lại. Các Sứ quán của Mỹ là những pháo đài. Chúng ta không có những Góc của Mỹ và những trung tâm mà chúng ta từng có rất nhiều để người dân có thể vào đó và tìm hiểu về nước Mỹ.

Do đó chúng tôi đã nói là chúng ta phải làm theo cách khác. Người dân đang đi về đâu? Vì thế chúng tôi đã thành lập một Trung tâm Mỹ tại khu mua sắm lớn nhất tại Jakarta. Và thoạt đầu thì người dân đã nói “Ôi, Chúa ơi. Thế này nghĩa là sao?” Vậy đấy, điều này nghĩa là chúng tôi đang đưa thông điệp của nước Mỹ tới những nơi người dân đang thực sự sống và làm việc.

Bà có nêu rằng bản thân bà là một người theo chủ nghĩa biệt lệ Mỹ. Tổng thống có phải là một người theo chủ nghĩa biệt lệ Mỹ theo cách như bà không? Và cách của ông ấy là sao – có phải là biểu hiện theo cách khác với cách của bà, và ông ấy dùng cách nào để chứng tỏ với nước ngoài?

Chà, tôi nghĩ là Tổng thống hầu như theo định nghĩa thì là một người theo chủ nghĩa biệt lệ Mỹ. Ông ấy là ví dụ của chủ nghĩa biệt lệ Mỹ. Nhưng tôi nghĩ là ông ấy còn điều hành đất nước bằng niềm tin đó (niềm tin nước Mỹ là cái gì đó đặc biệt, biệt lệ). Ông ấy rất tôn trọng quan điểm của nhân dân các nước khác và những giá trị văn hóa và lịch sử riêng của họ, điều này tôi cho là hợp lý bởi vì chúng ta làm việc với nhân dân của đất nước, chúng ta cần biết họ từ đâu tới và không chỉ đơn thuần khẳng định vị thế của riêng mình. Và tôi nghĩ rằng điều cuốn hút người dân ở các nước khác về việc ông ấy được bầu làm Tổng thống nằm ở chỗ họ hiểu rằng điều đó chỉ có thể xảy ra ở nước Mỹ.

Chúng ta không cần phải đi khắp nơi đeo một tấm biển lớn có dòng chữ, chẳng hạn, “Tôi là một người theo chủ nghĩa biệt lệ Mỹ”. Chúng ta chỉ đơn thuần thể hiện nó ra và thế là xong – có thể gọi đó là phương tiện gửi thông điệp. Và tôi bị ấn tượng mạnh trong những chuyến công du đầu tiên, một trong những câu hỏi phổ biến nhất mà người ta thường hỏi tôi, nhất là cử tọa trẻ tuổi ở các trường đại học và ở những môi trường khác, là thế này: Bà làm việc như thế nào với Tổng thống Obama? Bà từng là đối thủ của ông ấy khi vận động tranh cử. Bởi vì ngay cả những nước dân chủ, thậm chí ngay cả những người mà chúng ta coi là đã hoàn toàn trưởng thành, thì vẫn tồn tại một suy nghĩ cho rằng sẽ là điều hoàn toàn kỳ cục khi hai đối thủ chính trị rút cục lại làm việc cùng nhau. Như vậy đó cũng là một thông điệp tinh tế nhưng quan trọng về chủ nghĩa biệt lệ Mỹ.

Và bao giờ tôi cũng trả lời thế này: Đúng như các bạn nghĩ, chúng tôi đã tranh cử chống lại nhau rất quyết liệt. Ông ấy đã cố gắng đánh bại tôi, tôi thì cố gắng đánh bại ông ấy. Nhưng ông ấy chiến thắng, rồi sau đó ông ấy đã đề nghị tôi làm việc cho ông ấy. Và tôi đã đồng ý bởi vì cả hai chúng tôi đều yêu đất nước của chúng tôi. Như vậy là tôi nghĩ rằng cái thông điệp đó đã gây ra tác dụng cộng hưởng ở rất nhiều người dân, và một lần nữa tôi muốn nhấn mạnh đặc biệt tới những người trẻ tuổi.

Nếu bà nhìn lại những gì đang xảy ra ở Ai Cập hiện nay thì thấy người dân bình thường coi đó như là một cuộc cách mạng ngọt ngào và nhẹ nhàng. Giờ đây người dân nhìn vào Ai Cập rồi nói, chà, họ đang chuyển từ một chính phủ quân sự sang một chính phủ khác. Giả dụ bà phải kết luận về Mùa Xuân Ẩ Rập, không chỉ tại Ai Cập mà còn những nơi khác nữa, thì bà nhìn nhận sự kiện ở đó như thế nào? Bà có coi đó như là một sự đổi thay lịch sử của toàn thế giới?

Tôi hoàn toàn coi đó là một sự đổi thay lịch sử toàn thế giới. Tôi nghĩ rằng đó là một sự kiện có thể làm đổi thay lịch sử. Tôi phần nào là người – hoặc chắc chắn ít nhất tôi không thể nói rằng tôi đã dự đoán được điều đó, song vì đã làm việc trong lĩnh vực này trong nhiều năm, cho nên tôi đã dự đoán là những gì đã xảy ra là không thể cưỡng lại. Hồi đầu tháng 1 tôi đã có bài diễn văn tại Doha trong đó tôi đã nói rằng cát dưới chân đang dịch chuyển, rằng trên thực tế thì các thiết chế chắc chắn sẽ sụp đổ. Lúc đó người ta đã nói, ồ, bà thật là tiên tri. Nhưng đó không phải là tôi có khả năng tiên tri. Đó là những gì đã xảy ra sau vụ người bán hoa quả người Tunisie. Điều đó phản ánh sự thừa nhận rằng trong thời đại mới của sự tham gia, trong thời đại mới của tính minh bạch và truyền thông tức thời thì các nhà lãnh đạo sẽ chắc chắn ngày càng khó mà lãnh đạo độc đoán theo những cách thức thường thấy như trước đây.

Vậy mà trên thế giới vẫn còn rất nhiều những nhà lãnh đạo vẫn còn bị tụt hậu, và chắc chắn sẽ còn lâu nữa thì điều này mới thay đổi, cho nên tôi nghĩ rằng chúng ta không nên quá hưng phấn và kỳ vọng một sự đổi thay kỳ diệu nào đó trong ngày một ngày hai. Theo quan điểm của tôi thì các xu hướng lịch sử không triển diễn theo cách như vậy.

Cho nên tôi không biết đích xác phải kết luận thế nào. Phần lớn điều này phụ thuộc vào liệu các lực lượng đã đem lại kết quả ban đầu tại Tunisia, tại Egypt, có đủ sức tự tổ chức lại mình và tìm ra cách để biến những khát vọng của họ thành những hành động hay không.

Điều này đúng với mọi cuộc cách mạng hoặc mọi trào lưu lớn. Bởi vì thường xảy ra điều là những nhà cách mạng, có thể nói như vậy, những người trên quảng trường Tahrir, họ đã mở cánh cửa, song họ không phải là những người thực sự có chuyên môn hoặc phương pháp làm việc, buộc phải tổ chức để tận dụng những lợi thế của những gì sẽ xảy ra tiếp theo. Các lực lượng đóng vai trò tổ chức – dù là quân đội hay các nhóm Hồi giáo đã tồn tại như là thể chế trong xã hội, đều đang ở vị thế tốt hơn để tận dụng cơ hội.

Vì thế tôi nghĩ rằng sẽ có rất nhiều sự nhân nhượng trong những năm tới để cho những thành công hôm nay sẽ tiếp tục được phát triển sau đó. Nhưng tôi tin rằng về căn bản thì các lực lượng của tự do, các lực lượng của sự cởi mở, đều rất mạnh. Cách nào để họ triển khai thành các hướng là điều tôi đang quan sát với nhiều lo lắng. Và vì thế lại càng là lý do để chúng ta không chỉ hỗ trợ cải cách chính trị mà còn cả cải cách kinh tế nữa – bởi vì tôi là một người vô cùng tin rằng tầng lớp trung lưu là trụ cột của dân chủ. Nhân dân phải cảm thấy họ đang ngày càng khấm khá lên thì họ mới chấp nhận các luật của trò chơi, có thể nói như vậy, tức là họ chịu để cho các nhà lãnh đạo đất nước thực sự cai trị họ. Chúng ta (người Mỹ) được may mắn hưởng điều đó từ bao lâu nay và chúng ta không thể đánh mất nó.

Ở những quốc gia khác thì sự bất bình đẳng kinh tế, của cải nằm trong tay một số ít, thì tất cả những điều đó đều phải được thay đổi, không phải chỉ bởi vì giờ đây người dân được bầu cử và thành lập các đảng phái chính trị, mà còn là cách nào để mở của nền kinh tế và làm cho ngày càng có nhiều người hơn được hưởng sự thịnh vượng.

Cho nên là có rất nhiều việc phải làm cùng một lúc. Và tôi nghĩ rằng rất nhiều người tôi đã gặp trong năm qua nhất là tại Tunisia và Ai Cập thì đều hiểu được họ muốn đi tới đâu, song họ vẫn còn chưa thực sự biết được cách nào để tiếp tục con đường sẽ đưa họ tới chỗ đó. Rất nhiều cuộc cách mạng hồi tháng 5 đã bắt đầu trong niềm hy vọng lớn. Niềm hy vọng sau đó đã bị tiêu tan bởi thực tế của nền chính trị được thực thi dưới hình thức này hay hình thức khác ở khắp nơi. Và chúng tôi đã cố gắng rất nhiều để làm cho người dân ở những nơi như Ai Cập hiểu rằng chính trị không phải là một từ ngữ bẩn thỉu, rằng không thể đi từ biểu tình tự phát tới chính quyền, rằng một nền dân chủ bao giờ cũng đòi hỏi sự xây dựng những thiết chế dân chủ. Và người dân vẫn còn chưa thực sự cảm thấy thoải mái khi nghe nói tới điều đó.

Như vậy là chúng ta đang làm hết sức mình để cung cấp những ví dụ và cung cấp sự hỗ trợ phi đảng phái. Chúng ta không đặt cược vào bất cứ ai hoặc chống lại bất cứ ai. Chúng ta chỉ đơn thuần cố gắng đảm bảo rằng người dân hiểu được phải làm điều gì để đi đến nơi mà họ tin rằng họ đang cố gắng đi đến.

Tôi nghĩ một số nhân vật chủ chốt của cuộc Chiếm đóng Phố Wall giờ đây đang đánh giá (nghe không rõ)… phải được truyền bá trên toàn thế giới, sẽ tìm thấy sự an ủi trong điều bà đang nói. Có phải cảnh sát đã làm dụng thẩm quyền…? Bà có theo dõi chút nào tình hình không?

Tôi chỉ theo dõi tin tức thôi. Ý tôi muốn nói là, tôi không thể giả vờ biết hết những gì những người chiếm đóng Phố Wall đang chủ trương bởi lẽ họ thực sự không có một chương trình nghị sự. Nhưng trước khi có cuộc chiếm đóng Phố Wall thì tôi đã nghĩ rằng đảng Tea Party cũng có động cơ nực cười giống như những người đang chiếm đóng Phố Wall hiện nay. Và tôi biết đảng Tea Party không thích nghe điều tôi vừa nói, nhưng rất nhiều người của đảng Tea Party đã thực sự khó chịu về các khoản cứu trợ tài chính của Chính phủ. Họ nghĩ, Thế quái nào mà Chính phủ lại cứu trợ những ngân hàng khổng lồ và đồng thời để họ tịch thu nhà thế nợ người hàng xóm của tôi? Ý tôi muốn nói là người dân thấy sự cứu trợ tài chính của Chính phủ là vô lý. Và tôi nghĩ rằng câu hỏi nói trên là công bằng.

Rất nhiều những người chiếm đóng Phố Wall là từ cùng một thành phần, nghĩa là sẽ không có sự nhân rộng. Cha tôi là người theo Đảng Cộng hòa, từng là một chủ doanh nghiệp nhỏ. Ý tôi nói là thực sự là nhỏ. Cha tôi thường xuyên chỉ có một hoặc hai người làm; hầu như chỉ là mẹ tôi, các anh trai tôi và tôi. Ông ấy theo quan điểm phần nào giống quan điểm kiểu Jefferson rằng chúng ta nên thận trọng với những cái gì "to", bởi vì quan liêu cồng kềnh quá sẽ khiến chúng ta không còn giữ được cái làm nên điều đặc biệt ở nước Mỹ.

Và đến bây giờ tôi vẫn luôn suy nghĩ về quan điểm của cha tôi, bởi vì chuyện của cha tôi đã xảy ra rất lâu rồi song nó vẫn có liên hệ với cả sự kiện đảng Tea Party lẫn sự kiện Chiếm đóng Phố Wall. Hượm chút, chúng ta sẽ có sự phản ứng lại, đừng hưởng quá nhiều hơn người khác. Cái chính phải hiệu quả, đừng lãng phí tiền, và đừng có để những ông lớn cuỗm tiền mang đi chỗ khác. Đó là cái tâm trạng của cha tôi.

Nhân nói tới cái to, hãy nói một chút về Trung Quốc.

Xin mời.

Gần đây bà nói nhiều về châu Á, theo cách bà đã đưa ngoại giao Mỹ tới sức mạnh khéo léo và mềm mỏng hơn, dường như Trung Quốc lại đang áp dụng sức mạnh kiểu cũ nhưng lại hiệu quả theo cách mà nước Mỹ đã từng làm song giờ đây không thể tiếp tục làm theo cách đó được nữa. Bà có thấy điều đó – đó là điều mà chúng ta có thể nói mãi không hết. Rõ ràng là Trung Quốc đang cạnh tranh với Mỹ, nhưng đó là sự cạnh tranh gì mới được chứ – bà thấy gì ở tương lai của sức mạnh Trung Quốc, trên phương diện khả năng điều hành đất nước của họ và [họ đang trở thành] bá quyền giống như nước Mỹ từng là?

Chà, tôi nghĩ rằng điều quan trọng là chúng ta đã chuyển trọng tâm tới châu Á. Và tôi muốn nhấn mạnh lại rằng không phải là nước Mỹ đang bỏ qua những rủi ro và mối nguy hiểm vẫn tiếp tục tồn tại ở Nam Á, Trung Đông, Bắc Phi v.v., song giờ đây chúng ta phải quay trở lại với cơ hội kinh doanh. Chúng ta phải tìm kiếm những cách thức để nước Mỹ có thể mở rộng sự hiện diện về kinh tế, gây ảnh hưởng, và hợp tác với Trung Quốc. Mục tiêu của tôi phần nào là đưa Hoa Kỳ hòa nhập vào cái kết cấu đang tồn tại sẵn ở khu vực châu Á.

Tôi hiểu.

Và rất nhiều người Mỹ đang thực sự bác bỏ điều này. Khi tôi tới Indonesia hồi tháng 2 năm 2009 và nói rằng chúng tôi sẽ ký một Hiệp ước hữu nghị và hợp tác và tham gia vào ASEAN thì mọi người đều cho là chuyện hoàn toàn bịa. Có sự phấn khích ở châu Á, đối với những người đề cao giá trị của các thiết chế của họ thì đây là sự chứng tỏ rằng Mỹ tôn trọng nước họ. Còn đối với những ai muốn tin chắc Hoa Kỳ là một cường quốc có mặt thường trực ở Thái Bình Dương để giúp tạo thế cân bằng với Trung Quốc thì tuyên bố của tôi là một sự thở phào nhẹ nhõm. Rồi sau đó là hội nghị Thượng đỉnh Đông Á. Chúng tôi muốn tổ chức một hội nghị thượng đỉnh ASEAN-HOA KỲ. TẤT CẢ đều có mặt, chúng tôi đã làm được rất nhiều điều ở châu Á, và cả Tổng thống và tôi đều coi châu Á là một ưu tiên thực sự.

Nếu chúng ta nhìn vào Trung Quốc, nhìn vào những gì họ từng làm trong khoảng thập niên vừa qua thì chúng ta sẽ thấy là họ sử dụng rất hiệu quả sức mạnh mềm của họ.

Đúng vậy.

Nếu chúng ta coi sức mạnh mềm như là sức mạnh ngoại giao và sức mạnh kinh tế, khi ấy các sức mạnh đó rất hiệu quả trong việc truyền bá rộng khắp khu vực, tạo ra đầu tư, xây dựng những gì mà các nước cần, làm việc để xây dựng các mối quan hệ nhằm thay đổi mối hận thù lịch sử hoặc sự nghi ngờ nhau. Và điều này không chỉ ở châu Á. Ý tôi muốn nói là Trung Quốc đã đưa sức mạnh mềm tới châu Phi, châu Mỹ La tinh, họ làm những điều giống hệt nhau.

Vậy là họ đang hoàn toàn có quyền làm như vậy. Tôi tin vào một thị trường kinh tế toàn cầu, như vậy là nếu như Trung Quốc muốn tham gia vào đó và cạnh tranh với ngành khai khoáng chẳng hạn, thế thì họ hoàn toàn có quyền làm điều đó. Nhưng tôi hoàn toàn không tin chúng ta nên nhượng bộ họ, chúng ta cũng cần cạnh tranh với họ về ảnh hưởng của quyền lực mềm. Như vậy là dù tham gia vào nhiều tổ chức hơn nữa hoặc đầu tư là điều người dân coi là quan trọng, đối phó với thiên tai là điều xảy ra rất nhiều trên thế giới và ở khu vực đó thì nước Mỹ có rất nhiều điều để nói và chúng ta sẽ bỏ lỡ một cơ hội lớn nếu như chúng ta không có mặt ở thực địa để nói ra câu chuyện.

Đồng thời chúng ta đều biết – đây chẳng phải điều bí mật gì phải giữ kín – rằng Trung Quốc đang gia tăng tài sản quân sự. Vâng, đó là điều một nước thường làm nếu họ có những nguồn lực, mà Trung Quốc thì đang có. Bổn phận của chúng tôi là phải đảm bảo rằng chúng ta có mặt ở nước đồng minh của chúng ta theo hiệp ước, chẳng hạn như Philippines, Nhật Bản, Thái Lan, ở nơi chúng ta có mối quan hệ chặt chẽ, chẳng hạn Australia, và trên khắp châu Á ở nơi chúng ta có những đối tác rất quan trọng.

Và như vậy khi Trung Quốc bắt đầu lên gân, và tôi nghĩ họ lên gân một phần là vì họ muốn khẳng định do cái vị thế kinh tế hiện nay của họ, thì lúc ấy chúng ta không thể thực sự tham gia theo cách như trước đây. Tôi nghĩ là tương lai đang đòi hỏi chúng ta phải tham gia theo cách khác. Có rất nhiều hoạt động đang xảy ra ở biển Hoa Nam [tức Biển Đông], có rất nhiều điều đang xảy ra liên quan đến việc Trung Quốc đang tự khẳng định mình, Trung Quốc đang có động thái ngăn cấm các nước thăm dò dầu mỏ, và nhiều chuyện khác nữa theo hướng đó. Cho nên tôi có quan điểm rõ ràng là Mỹ phải tuyên bố tự do hàng hải là một quyền quốc tế. Có những phương pháp để giải quyết tranh chấp về lãnh thổ, vì thế chúng ta không lựa chọn đứng về phe nào. Tôi sẽ không nói hòn đảo này là thuộc về Indonesia còn hòn đảo kia thuộc về Trung Quốc Đó không phải là vai trò của Hoa Kỳ. Nhưng chúng ta sẽ khẳng định rõ ràng nguyên tắc của pháp luật và giải pháp giải quyết vấn đề dựa vào pháp luật.

Và điều này dẫn dắt tôi tới một vấn đề rộng hơn là một phần của những gì chúng ta phải làm cho thế kỷ XXI, ấy là phải tạo ra một khung khổ mới dựa vào những nguyên tắc. Những gì tỏ ra có hiệu quả ở thế kỷ XX, những gì chắc chắn đã từng đem lại lợi ích cho chúng ta song tôi nghĩ cũng đã đem lại lợi ích cho phần còn lại của thế giới, hiện đang chứng tỏ có những dấu hiệu hao mòn và hoàn toàn không phản ánh được những diễn biến mới mẻ. Vì thế chúng ta cần một cách tiếp cận dựa vào nguyên tắc để giải quyết những vấn đề kinh tế và tranh cãi chính trị. Tôi gọi đó là sự tương hỗ dựa trên nguyên tắc; chúng ta phải có một bộ nguyên tắc để mọi người tuân thủ và hưởng lợi từ việc đó bởi vì bên kia cũng đang tuân thủ.

Và đây là một công cuộc lâu dài. Tôi đã nói điều này với người Trung Quốc. Hãy lấy ví dụ về biển Hoa Nam [Biển Đông]. Nếu chúng ta không có một cách tiếp cận dựa trên nguyên tắc ở biển Hoa Nam để sao cho chúng ta nhìn vào luật quốc tế và luật dựa vào tập tục và giải quyết tranh chấp bằng những cơ chế hoặc đã được xác lập chắc chắn hoặc cần thiết phải được tạo ra, khi ấy chúng ta sẽ nói gì khi chúng ta quyết định chúng ta muốn đi qua Nam Cực bởi vì ở đó giờ đây có thể đi lại được do băng đã tan bớt đi rồi và người Nga nói "không được", "đó là của chúng tôi" hoặc ở một vùng biển nào đó khác mà người ta đang bắt đầu tuyên bố chủ quyền bằng vũ lực đi ngược lại những chuẩn mực quốc tế?

Và chuyện này không chỉ liên quan đến bất kỳ một quốc gia duy nhất nào. Chuyện này có liên quan đến việc bằng cách nào chúng ta có được một bộ nguyên tắc để tuân thủ, để tất cả mọi người đều được hưởng tối đa những kết quả tích cực từ bộ nguyên tắc đó.

P.A.T. dịch từ swampland.time.com

Đăng lại từ bauxite Việt Nam

Thứ Sáu, 28 tháng 10, 2011

PHỤC TÀI BÁC MẠNH



NGUYỄN QUANG LẬP
Vietinfo đưa tin Cựu TBT Nông Đức Mạnh cưới vợ trẻ: “Theo nhiều nguồn tin khác nhau, sau khi rời ghế Tổng bí thư Đảng CSVN chưa đầy một năm, ‘Cụ’ Nông Đức Mạnh cảm thấy ‘cô đơn’ và quyết định lấy vợ mới. Vị hôn thê mới của ‘Cụ’ là cô gái trẻ và dễ thương vùng Kinh Bắc (Bắc Ninh)…Cô dâu là Đỗ Thị Huyền Tâm, sinh 17/10/1966, quê tại Ninh Xá, Bắc Ninh…Cô là Tổng giám đốc một công ty trách nhiệm ‘vô hạn’ Minh Tâm , là đại biểu Quốc hội khoá 12 và khoá 13 hiện nay.“

Chẳng biết trúng hay trật nhưng thấy vui vui. Anh Ba Sàm thì bình luận:” Chuyện “yêu” thì chắc chắn rồi, nhưng “cưới” hay chưa thì mới là tin đồn. Nội dung bài viết cũng có những chi tiết không được chính xác, hơi “dìm hàng” cô dâu quá (“4 lần lên xe hoa”. Thực ra 2 lần là lên xe … với “đại gia” thì đúng hơn). Có lẽ vì vậy mà lối viết cố tình tếu táo cho bà con hiểu là tin “vỉa hè”. Vỉa hè thì vỉa hè, mình vẫn vui như thường.

Việc bác Mạnh yêu hay cưới vợ hai là chuyện bình thường. Bác Nguyễn Trọng Tạo chẳng chức tước bổng lộc gì mà nghe đâu đang định cưới vợ thứ tư, huống gì là bác Mạnh. Nhìn bác Mạnh cười, hàm răng trắng đều tăm tắp biết bác hảy còn sung lắm, răng chắc cặc bền mà. Bác còn yêu được là mừng cho bác ,còn sống còn yêu vậy là vui rồi. Bác Mạnh sinh năm 4o, năm nay đã 72 tuổi rồi. Tuổi ấy Bác Hồ lo ngồi viết di chúc, bác Mạnh vẫn còn yêu được và được gái yêu là rất vui, cuộc đời vẫn đẹp sao he he.. .

Một mụ nạ dòng, hoa khôi năm cà cuống, hay tin này bình một câu tỉnh bơ, nói ông này nông nhưng mà mạnh, duyệt, nếu là tao thì tao cũng duyệt. Đúng đúng. Thôi thì không yêu dân thì yêu gái vậy, không làm cho dân hạnh phúc thì làm cho gái sung sướng, cũng gọi là tài. Bây giờ mình mới thực sự phục tài bác Mạnh, hi hi.

Nguồn:quechoa.info

Chủ Nhật, 23 tháng 10, 2011

MIỆNG NHÀ QUAN & NỀN HÀNH CHÍNH VỤN




Mình thường quan tâm đến những tuyên bố khi nhậm chức của các thành viên chính phủ,và qua đó dự đoán hậu vận của họ thế nào.Và ít nhất nhiệm kỳ vừa rồi mình đoán đúng.

Thoạt đầu là ông Triệu bộ thuốc.Ông tuyên bố sẽ giải quyết tình trạng bệnh nhân nằm đôi,nằm ba.Khi phóng viên hỏi ổng bằng cách nào thì ổng trả lời: “Chúng tôi sẽ tận dụng các phòng họp,phòng giao ban,hội trường của các bệnh viện để kê thêm giường.Cái này chúng tôi đã thử nghiệm ở Bệnh viện Thanh Nhàn rồi…” là mình thấy trớt quớt.Cái sáng kiến kê thêm giường ấy,bà hộ lý ở bệnh viện cũng làm được,không cần đến ông tiến sĩ bộ trưởng đâu ạ.Đúng ra ở tầm ông,ông phải có một giải pháp tổng thể,ví dụ quy hoạch lại chiến lược phát triển hệ thống y tế công theo hướng ngay càng thu nhỏ quy mô,hướng đến đối tượng người nghèo,chính sách,và mảng dự phòng.Còn lại tập trung phát triển y tế tư trong sự quản lý chặt về chất lượng,hiệu quả trên chi phí…Từ đó giảm tải cho tuyến y tế công hạng cao.Chứ tận dụng phòng họp và kê giường thì…xin chịu ông Chiệu…Và nhiệm kỳ của ông trôi qua êm đềm không có gì cho ngành y khởi sắc nếu không nói là tệ hơn,ngoài cái thuật ngữ kỳ quặc dịch tiêu chảy cấp nguy hiểm mà không phẹt mẹ nó cái từ thổ tả.

Rồi tuyên bố đến năm 2011 viên chức ngành giáo dục sẽ sống bằng lương của ông bộ học Nhân.Cứ như ông phát tiền quà sang 5000đ cho con ăn phở mà không cần biết giá phở hiện tại bao nhiêu.Ông có hỏi ông bộ tiền Ninh hay bộ buôn Hoàng thử năm 2011 rau muống bao nhiêu bó,liệu ông Ninh có cân đối đủ tiền cho ông trả không?Sướng miệng…Và ông cũng êm đềm nhấn nút escape nhường ghế cho ông Luận với đống không,đống chung mà giờ này người ta thấy một ngành giáo dục nhiều không quá mà chẳng có gì chung.

Rứa năm ni nghe bộ đi Thăng tuyên bố cái chi.Ổng nói phải cho tư lệnh cái quyền.Ừ,có cái quyền.Ổng vô Đà Nẵng,bụp ngay ông Trưởng ban dự án sân bay.Bà con nghe mát dạ.Mấy thằng ì,thằng ạch phen này chết nhá…Ổng nói thiệt làm thiệt đó…

Nhưng ổng lại thừa thắng xông lên.Thần tốc,thần tốc hơn nữa.Táo bạo,táo bạo hơn nữa bằng cách cấm xe máy.Ổng lùa người ta đi xe bus vì ổng nói ổng có đi xe bus hai lần rồi.Thì cứ tin là ổng đã đi xe bus hai ngàn lần rồi cho mau,nhưng ổng đã làm gì để cải tiến sự thuận tiện của phương tiện giao thông công cộng này.Thằng dân nó cũng khôn lắm quý nhà chức trách ạ.Thấy cái gì ngon bổ rẻ là hắn mần ngay,không đợi khuyến khích đâu.Như chỗ mình bây giờ có phong trào đi nhậu bằng taxi vì hắn rẻ,an toàn (vì chưa kẹt xe và chắc cũng không có cơ hội kẹt xe).Ba thằng uỵch lên chiếc bốn chỗ đi vô tư có vài chục ngàn,rẻ hơn đi ba chiếc xe máy.

Rồi ông hiến kế điều chỉnh giờ làm việc.Cái này hơi bị được à nha.Ông có cách nào giải tán mấy cái trường mẫu giáo,mầm non,tiểu học,THCS đi không.Vì tụi nó tan học không được bố mẹ đón (bố mẹ chưa đến giờ tan ca) tự đi về dễ thành Yue Yue (Phật Sơn) lắm.

Rồi ông cấm (thì cứ cho là ông khuyến cáo đi cho nó bớt màu quy phạm pháp luật) thuộc cấp ngành đi từ cấp Vụ đổ lên không chơi golf vào ngày nghỉ.Tại sao là golf.Thế họ đi đánh billard được không?Họ đi Singapore,Thailand giải trí cuối tuần được không? Cấm,cấm,cấm…Tại sao thay vì cấm chơi golf,ông không thực hiện công khai tài sản của thuộc chức?Công khai rồi,ông cho hỏi tiền đâu mấy anh chơi golf?Vậy còn ai dám chơi golf?

Ông không nghĩ ra được cái gì hay hơn mấy cái cấm đó sao? Ví như thay vì ầm ĩ cấm,ông chịu khó huy động think tank của bộ ông đề xuất phương hướng phát triển giao thông công cộng (chứ không phải làm tốn thì giờ của Quốc Hội vào cái vụ tàu cao tốc).Và phối hợp với các bộ khác đề ra quy chuẩn về phát triển đô thị,tuân thủ các tiêu chuẩn văn minh về môi trường,giao thông công cộng…

Những việc đó chắc chắn là không có hiệu quả ngay.Nhưng nó chắc chắn là không tạo nên những núi rác tương lai mà các ông bộ trưởng con,bộ trưởng cháu phải gánh.

Thấy một người sắp chết nước không phải chứ nhảy ào xuống là cứu được,huống hồ là cả chục ,cả trăm người sắp chết nước…Một hai ba...nào ta cùng nhảy chỉ là hành vi từ một não trạng hành chính vụn mà thôi.

Thứ Bảy, 22 tháng 10, 2011

CƠM GÀ TAM KỲ.



Cơm gà Tam Kỳ: Tinh hoa đất Quảng




Quảng Nam là đất nổi tiếng với nhiều món đặc sản ngất ngây lòng người. Nào món nem lụi, bún thịt nướng, mì Quảng…,. Nhưng có lẽ, nói đến thương hiệu đất Quảng phải kể đến món cơm gà Tam Kỳ.


Dù là khách phương xa hay người địa phương, khẩu vị cơm gà Tam Kỳ bao giờ cũng vậy, lạ mà quen. Quen vì người thưởng thức như thấy hình ảnh dung dị, thân thương của một món ăn truyền thống. Lạ vì bắt gặp một phong vị khác do chính bàn tay người Tam Kỳ chế biến.

Đặc trưng cơm gà nơi đây là mặn mà, cay cay rất riêng của vùng cát nóng miền Trung. Để giữ nguyên vẹn hương vị có được từ bao đời đó, người nấu phải có kinh nghiệm trong khâu chọn nguyên liệu đến cách chế biến, bài trí món ăn. Muốn cơm gà ngon đầu tiên phải chọn loại gạo lúa mới, hội đủ 3 yếu tố: thơm, ngon, dẻo.






Trước khi nấu, gạo được vo sạch, ướp thêm gừng, tỏi giã nhuyễn để tạo mùi thơm. Muốn có đĩa cơm bắt mắt, thường người nấu trộn thêm vào gạo chút bột nghệ. Đổ dầu hay mỡ gà vào nồi, đợi dầu nóng thả vào ít tỏi băm nhuyễn cho nhanh tay, đến khi bốc mùi thơm là được. Đổ gạo vào xào đến khi hạt gạo trở nên khô và bóng thì tắt bếp.

Phần chọn gà cũng rất quan trọng. Nấu cơm gà chọn loại gà ta nhưng phải tơ được chăn thả, chỉ loại gà này thịt mới mềm, thơm ngon, nếu trúng gà mái mới đẻ lứa trứng đầu tiên thì càng ngon. Khi làm gà phải cẩn thận lấy hết tiết để tránh thịt gà đen và tanh. Để gà vào luộc lúc nước còn nguội để da không bị nứt vỡ. Nước sôi vài phút hạ nhỏ lửa ở dạng sôi lăn tăn.

Kiểm tra gà chín bằng cách dùng đũa tre xăm vào thịt, nếu đũa có thể xuyên vào thịt và không thấy rỉ máu bên trong nghĩa là thịt đã chín mềm. Gà luộc chín không teo tóp mà phổng phao, da tươm mỡ vàng óng, có mùi thơm đặc trưng.

Sau khi thịt chín, dùng nước luộc gà để nấu cơm. Gạo đã xào qua nên căn nước luộc sao cho xâm xấp hạt gạo là được. Đợi đến khi nồi cơm sôi, vừa cạn nước cho một ít lá dứa đã rửa sạch vào để tạo mùi thơm nồng. Nồi cơm gà ngon khi xới ra đĩa, hạt cơm phải chín, không quá khô, không quá nhão, hạt cơm mềm nhưng vẫn còn săn chắc và phải đạt độ dẻo.

Cơm vừa chín tới mở nắp nồi đang còn nghi ngút sẽ cảm nhận được mùi thơm nức từ gạo, từ gà và lá dứa. Và dường như chính sự kết hợp đó đã tạo nên hương vị thơm ngon đặc trưng riêng chỉ có ở món cơm gà Tam Kỳ. Ngoài ra gia vị làm nên hương vị đặc biệt cho món cơm gà Tam Kỳ còn có một ít nước mắm tỏi, ớt, rồi rau răm, dưa leo.

Khâu cuối cùng là đơm cơm ra đĩa phải khéo léo, đơm sao cho đầy đặn, cân đối và thật tròn, đặt lên thịt gà đã xé phay, rắc thêm rau răm, lá chanh, một ít tiêu. Múc muỗng cơm đưa lên miệng, người ta vừa xuýt xoa, hít hà với món ăn ngon, rồi hỏi thăm nhau, kể cho nhau vài câu chuyện vui nơi đất Quảng.

Quả thật, người Quảng Nam đi xa nhớ món cơm gà, khách lữ hành một lần ghé lại cũng không khỏi vấn vương cái hương vị độc đáo, mộc mạc và thấm sâu của món cơm gà Tam Kỳ. Để rồi khi xa, ai cũng không quên được “đất Quảng Nam chưa mưa đã thấm”...

Nguồn:banvannghe.com

Thứ Sáu, 21 tháng 10, 2011

BÃI NƯỚC BỌT VIẾNG GADHAFI



Những kẻ đã cầm súng bắn vào nhân dân mình
Thì cái chết không thể khác
Dù các ngươi có xây ngàn vạn thước đê
Cũng không ngăn được
Sức nước
Của trăm triệu nhân dân
Thay trời hành phạt.

Thứ Hai, 3 tháng 10, 2011

KÉN NGƯỜI TÀI NĂNG HAY CHỌN KẺ KHÔN VẶT

VŨ QUẦN PHƯƠNG

Hiện nay trong guồng máy quản lý xã hội của chúng ta có nhiều chỗ bất cập. Cán bộ đông mà công việc ứ, nhiều sai lầm chậm được sửa chữa... Nhiều mặt công tác không đáp ứng được yêu cầu, dẫn đến sự xuống cấp xã hội, làm nẩy sinh những hiện tượng hủ bại đáng kinh sợ. Có rất nhiều nguyên nhân. Nhưng chủ yếu là thiếu người có tài năng, biết tháo gỡ, xoay chuyển được tình thế. Công tác cán bộ, tiêu chí, phương thức kén người tài rõ ràng có những điều cần được xem lại.

Nước ta bây giờ hơn 80 triệu dân, người tài tan đều vào khối đông đảo ấy, phải có chính sách nào để cả khối đông đảo đó được đặt trong vòng chọn lựa. Trong chiến tranh Đảng đã tin cậy trao cho mọi người dân khẩu súng để chiến đấu, nay hoà bình vẫn cần sự tin cậy đó khi trao công tác. Bất cứ một cơ chế nào, ở lĩnh vực nào hạn chế sự tham gia bình đẳng của các tài năng đều gây thiệt hại, không chỉ là thiệt hại cho người tài mà chủ yếu là thiệt cho đất nước. Nhân dân mới chính là người phải trả phí tổn cho thiệt hại đó.

Người tài không được trọng dụng thì người ta sẽ không phấn đấu để thành tài. Mà lại phấn đấu cho cái được trọng dụng, thí dụ bằng cấp, thần thế... Số người có thực học trong giới gọi là trí thức bây giờ không nhiều đâu. Người ta làm mọi thứ, trừ học hành, để tiến thân. Cần bằng thì chạy bằng, cần cơ cấu thì chạy cơ cấu, cần gì chạy được hết, trừ kiến thức, trừ tài năng. Người ta đúc kết: Cả đời phấn đấu không bằng cơ cấu một phen. Lại tổng kết: May hơn khôn. Thế là đi lễ bái để cầu may chứ không phải vào lớp học để nên khôn. Không dám tin vào chính mình là dấu hiệu của suy thoái.

Người có công với xã hội thì xã hội cần phải đền đáp, đó là lòng biết ơn. Nhưng nên đền đáp bằng vật chất như tiền của, đất đai...Không nên, rất không nên, đền đáp bằng chức vụ. Vì chức vụ có ảnh hưởng tới cả cộng đồng. Ưu tiên trong học hành cũng đừng ưu tiên bằng điểm số. Hãy ưu tiên bằng tạo điều kiện học: cấp thêm học bổng, cho học dài thời gian, khi nào đạt đúng chuẩn mực thì mới công nhận. Ưu tiên gì thì một mét cũng cứ phải là một trăm xăngtimet. Tám mươi, chín mươi đã coi là một mét sẽ rối loạn mọi giá trị xã hội. Mất chuẩn mực từ một lĩnh vực sẽ gây hiệu ứng đô mi nô tác động toàn xã hội, hậu quả khôn lường.

Đánh giá người tài là việc không dễ, nhất là ở thời điểm này khi bằng cấp không đo đúng trí tuệ, khi danh hiệu không nói đúng tài đức, thật giả lẫn lộn. Vì vậy để tìm được người tài đức lại cần có người tài đức.Tài để định ra thể chế chọn lựa, khoa học, sáng tạo và có tính khả thi. Đức để đứng vững trước mọi mua chuộc, sức ép, kiên định làm lợi cho dân nước. Bộ phận tổ chức cán bộ các cấp cần được kiện toàn. Trong kiện toàn cần coi trọng tính chuyên môn, với một lộ trình thật sự khoa học. Đối tượng công tác là con người, là tài năng không thể chung chung, cảm tính càng không thể thiên kiến, phân biệt đối xử, bất công phán xét.

Người phát hiện ra người tài, lại có cách dùng được cái tài ấy làm lợi cho dân cho nước mới đúng là người tài nhất trong số những người tài. Thời nào cũng được dân chúng biết ơn.

Nguồn:lethieunhon.com

Thứ Bảy, 1 tháng 10, 2011

LAO XAO TÊN ĐƯỜNG.

Tối nay đi chơi về, qua ngã tư đèn đỏ,dừng lại, chợt ngẩng lên thấy cái biển tên đường Đinh Tiên Hoàng giao với Nguyễn Huệ. Buồn cười. Nhất bên trọng nhất bên khinh vậy ta.

Ngẫm lại thấy xứ mình đặt tên đường hơi bị tùy tiện làm sao. Có ông vua thì dùng miếu hiệu như Lý Thái Tổ, Lê Thánh Tông, Trần Nhân Tông…Có ông thì trơ trụi,gọn lỏn như Lê Lợi,Nguyễn Huệ…Hay mấy ông sau không có miếu hiệu. Hay là mấy ông trước kỵ húy, còn mấy ông sau thì không? Sao không đặt tên đường Bửu Lân mà lại là Thành Thái, không đặt tên Nguyễn Phúc Đảm mà lại là Minh Mạng. Có người sẽ nói dân chỉ biết ông Thành Thái chứ không biết ông Bửu Lân…Vậy thì ông Quang Trung dân có biết không, ông Lê Thái Tổ có lẫn với ông nào không? Hay là có ông thì được quyền xách mé gọi tên, có ông thì phải kính trọng gọi bằng tước hiệu, bằng miếu hiệu.

Hoặc như đường Sư Vạn Hạnh, Khuông Việt.Chẳng có sách vở nào nói trụi lủi như thế. Vua chúa quan lại ngày xưa chẳng ai xách mé như thế. Thì tiếc gì mà không thêm cho ngài danh hiệu Vạn Hạnh Thiền sư, hay Khuông Việt Đại sư, Khuông Việt Quốc sư. Nghe nó trang trọng và thể hiện sự tôn kính tiền nhân.

Nhiều lắm. Ông Thoại Ngọc Hầu đứng bên ông Nguyễn Hữu Cảnh, Lê Văn Duyệt chứ không phải Lễ Thành Hầu, Lê Tả quân mặt dù dân Nam đã kính mến gọi ông Chưởng,Lê Thượng Công…Sao lạ vậy ta? Hoặc là ông Thủ Khoa Huân đi với ông Nguyễn Đình Chiểu, Phan Văn Trị chứ không là ông Đồ Chiểu, Cử Trị.


Đó là chưa kể trong cùng một thành phố vừa có đường Quang Trung vừa có đường Nguyễn Huệ, vừa có Đinh Bộ Lĩnh vừa có Đinh Tiên Hoàng.Chả biết ông nào vào ông nào.

LÝ NHÃ KỲ,WHY NOT?



Sao các bác lại thắc mắc nhỉ? Lý Nhã Kỳ làm đại sứ du lịch nước Vệ ta là đúng nhất.Vì cái charming của Vệ bấy giờ còn cái gì.Hạ Long thì thối, phố cổ thì dơ…tuồng chèo hấp hối, thiên nhiên thì tử…thái.Vậy thì ngoài ngực khủng,còn cái gì để hấp dẫn khách nước ngoài.Chả cần lời nói,chỉ cần bà đại sứ show hàng là ý…tại ngôn ngoại ngay.Tài nguyên số một và lợi thế vô bờ của Vệ ta hiện này chỉ còn có thế.Ngon bổ rẻ.Mại…dzô.
Có điều nên chuyên nghiệp hóa hơn bằng cách lập ra tập đoàn đại sứ,đi sâu vào chuyên ngành mà mỗi nhà đại sứ có ưu thế.Ví dụ Thủy Top,Lý Nhã Kỳ,Elly Trần phụ trách chuyên khoa ngực.Ngọc Trinh,Lan Hương phụ trách mảng bụng,mông…Cho tụi nó…sợ.

Chủ Nhật, 11 tháng 9, 2011

NGÀY 11/9/2001 CỦA TÔI.



Mới đó đã 10 năm rồi.Ngày ấy,chính xác hơn là sau ngày ấy 1 ngày,ngày 12/9/2001.Bọn mình đang chuẩn bị vào học siêu âm,đang ngồi chuyện gẫu trước sảnh bệnh viện An Bình.Có ai đó đưa ra tờ báo gì không nhớ,tròn xoe mắt rồi kêu to:Máy bay đâm vào tòa tháp đôi ở Mỹ.Cả bọn châu đầu vào.Mình thấp bé nhỏ con,không xem được,bèn chạy ra trước cổng mua luôn tờ bào gì đấy,cũng không nhớ nốt.Trời đất quỷ thần.Kinh khủng…Hình ảnh tòa tháp cuộn khói,rồi người chết…

Buổi học siêu âm hôm ấy nhạt phèo.Nhìn 8 cái phân thùy gan cứ lởn vởn nổi lên hình Tháp Đôi.Giờ giải lao,BS Dũng (hình như là phó khoa Chẩn đoán hình ảnh BV An Bình) phán:Chắc tụi CIA bày ra để có cớ đánh Iraq hay Afghanistan…Bác này lậm cái thuyết Roosevelt bán đứng hạm đội Thái bình dương cho Nhật để đổi lấy lời tuyên chiến của Quốc hội Mỹ.Mình nghĩ nếu có một quốc gia nào thí mạng dân mình một cách tệ hại như thế cho một toan tính bẩn thỉu như thế thì chắc chắn đó không phải là Mỹ.Mỹ rút khỏi Việt nam cũng một phần lớn do áp lực dư luận Mỹ về nhân mạng kia mà…Đâu có kiểu thí mạng dân kiểu còn cái dải quần (lai quần) cũng quyết ABC gì đấy…

Hồi đó đi học,tối hay đi nhậu,ít xem TV.Cũng chưa biết truy cập Internet.Điện thoại di động thì chưa có chức năng lướt web.Đâu có cập nhật thông tin dễ như bây giờ.Nhưng từ hôm đó trở đi,tối nào cũng chóc ngóc hướng mắt lên màn hình TV nhà bà chủ.Sáng ra phải có tờ báo cầm tay…

Sao kinh khủng vậy trời.Sao lại có chuyện vì một cái lý tưởng gì đấy,một đấng quyền năng nào đấy mà nhẫn tâm thí mạng bao nhiêu con người vô tội (trên máy bay và trong tòa tháp).Nếu quả thật có cái đấng nào đấy xui khiến họ làm điều đấy thì đấng đó chỉ có thể là Satan,là Medusse,là Hitler,là Pol Pot,là…Lông lá…


Thời đó,mình chưa đọc Sự va chạm giữa các nền văn minh của Huntington,cũng chưa hình dung ra cái Al Qaeda nó là cái gì.Chỉ thấy người giết người vô tội…Một chính thể nào,một tôn giáo nào,một tổ chức nào mà nghĩ cách thực hiện mưu đồ của mình bằng cách giết hại dân thường thì chính thể đó,tôn giáo đó,tổ chức đó đang thờ phượng ác quỷ.

Mình cũng không biết được nước Mỹ sẽ làm gì sau ngày đó,chỉ đoán rằng họ sẽ trả thù.Trả thù bằng cách nào.Chắc rằng ông Bush sẽ chụp xuống Iraq mà theo lẽ thường,là thành viên trục ác (ảnh hưởng câu nói của BS Dũng chăng).Nhưng ông lại chụp xuống Afghanistan,rồi sau đó mới đến Iraq,rồi sa lầy quân sự,rồi kinh tế suy sụp.Nước Mỹ đã hắt hơi nên thế giới viêm phổi,Việt nam chúng ta suy thận mãn…

Bao nhiêu điều tồi tệ đã đến từ ngày 11/9 ấy.Còn tệ hơn chiến tranh lạnh.Một cuộc chiến vô hình.Chẳng phải chiến tranh nhân dân,chẳng phải chiến tranh quy ước.Mà thế giới không một ngày yên.Vũ khí là thứ hàng được mua nhiều nhất.Hàng càng ngày càng dữ dằn.Thêm ba nước sở hữu đồ chơi nguyên tử.Thêm mấy nước lăm le chơi đồ chơi ấy.

Hết nước này tới nước khác vỡ nợ.Hết chính phủ này tới chính phủ kia sụp đổ.Hết công ty này tới giám đốc nọ ra tòa.Thất nghiệp,đói khát,thất học,dịch bệnh,bạo lực tràn lan.Con người đối với nhau ngày càng tệ hại.Thiên Chúa có cảm thấy không?Phật có cảm thấy không?Thánh Alah có cảm thấy không?

Chỉ khổ dân.

Thứ Bảy, 10 tháng 9, 2011

BOM NGUYÊN TỬ CỦA MAO.


Nghe lời Joliot Curie "Xin nói với đồng chí Mao, các đồng chí muốn phản đối vũ khí hạt nhân thì bản thân cần phải có vũ khí hạt nhân trước đã”,Mao lao vào cuộc "đua nóng" chế tạo vũ khí nguyên tử.

Sau khi nhờ Liên Xô giúp đỡ không thành công,Mao huy động toàn thể những gì gọi là sở trường của Tàu,nhất là món nhái bénthánh thủ thần tý,để sở hữu cho được cái món đồ chơi chết người đó.Trần Nghị,bộ trưởng Ngoại giao tuyên bố :"Dù chỉ còn cái dải quần cũng phải làm cho được bom nguyên tử"He he,bên này chị Út Tịch cũng nói vậy.

Sau năm năm ròng rã,ngày 16/10/1964, lúc 15h,tại sa mạc Gobi,quả bom nhiệt hạch Tàu nổ bùm.Mao sướng,Chu sướng,toàn thể bộ Chính trị Tàu sướng...Còn nhân dân Tàu...khổ.

Jung Chang và Jon Halliday, trong tác phẩm Mao: The Unknown Story cho rằng, số người chết vì Mao chế tạo bom nguyên tử đã vượt quá 100 lần số người chết vì hai quả bom nguyên tử ném xuống Nhật Bản. Nếu TQ không xuất khẩu nông sản để đổi lấy kỹ thuật quân sự thì sẽ không có ai bị chết đói. Và nếu TQ dùng tiền chế tạo bom nguyên tử để mua lương thực thì cũng không có người chết đói.

Một số nghiên cứu cho rằng, chi phí chế tạo quả bom nguyên tử đầu tiên khoảng 2,8 tỷ nhân dân tệ và toàn bộ kế hoạch hạt nhân kết thúc vào năm 1990 tiêu tốn khoảng 30 tỷ nhân dân tệ. Kế hoạch hạt nhân của TQ tương đương với hai cuộc chiến tranh triều Tiên trong 10 năm.

Sướng kiểu Tàu.

Thứ Tư, 31 tháng 8, 2011

CAM KẾT TÀU.


Nguyễn Quang Lập


Tướng Vịnh,Thứ trưởng Quốc phòng Vn và Tướng Mã Hiểu Thiên, Phó Tổng Tham mưu trưởng TQ.

Mình rất thích định nghĩa ngụy quyền của bác Huỳnh Ngọc Chênh trong bài ” Một ngụy quyền nữa ra đi“: “Ngụy Quyền mà tôi muốn nói tức là những nhà cầm quyền độc tài nhưng núp dưới danh nghĩa dân chủ để lừa đảo nhân dân. Họ là nhà cầm quyền ngụy dân chủ, cướp chính quyên bằng bạo lực, hoặc mỵ dân để được bầu lên rồi sau khi nắm quyền lực lại lén lút chuyển qua chế độ độc tài nên gọi là ngụy quyền. Nó khác với những nhà cầm quyền dân chủ thật sự do nhân dân bầu lên thông qua bầu cử tự do.”

Ấy là ý bác Chênh nói về chính quyền Muammar Gaddafi của Libya, người ta bảo đó là chính quyền độc tài, chính quyền điên rồ, chính quyền sa đọa, bác Chênh bảo đó là chính quyền ngụy, trúng ngay y chóc. Bác Chênh còn nói thêm cho rõ: ” Phần lớn những nhà cầm quyền ở Tây Á và Bắc phi là ngụy quyền. Đã là ngụy quyền thì không thể nào tồn tại lâu dài, vì sự tồn tại của chúng dựa vào sự trấn áp nhân dân bằng những thủ đoạn vừa tàn bạo vừa đê hèn bất chấp luật pháp và đạo lý. Đến một mức nào đó thì bộ mặt thật của chúng không còn thể nào che đậy được nữa, bất bình lan rộng và nhân dân nổi lên.”

Đúng rồi, phàm là ngụy thì trước sau gì cũng bị lật tẩy, bị đào thải. Nhưng trước khi bị lật tẩy, bị đào thải thì những ai lên tiếng bảo đó là ngụy rất dễ thân bại danh liệt, không vong mạng cũng tù tội , sợ lắm. Mình chỉ đủ gan cãi nhau với vợ chứ chẳng đủ gan cãi nhau với mấy cái ngụy to. Một là mình không đủ trình độ, hai là mình sợ bị lùa vào lực lượng thù địch. Mình chỉ xin thưa mấy món ngụy biện, mà cũng chỉ dám cãi với ngụy biện của ông Tàu chứ các vàng cũng không dám cãi với ngụy biện của ông Ta.

Đọc bài ‘Việt – Trung tuyệt đối không được sử dụng vũ lực‘ ,nghe tướng Nguyễn Chí Vịnh nói mình cứ lo lo, nghi nghi, chả biết hư thực thế nào. Tướng Vịnh nói: “Có một thực tế là Trung Quốc cam kết không lấy đất, lấy biển của Việt Nam và Việt Nam cũng không bao giờ nhượng bộ vô nguyên tắc về chủ quyền. Và Việt Nam cũng không bao giờ dựa vào bất kỳ một nước nào để chống Trung Quốc”.

Thiên hạ rất sợ món cam kết Tàu, vì đó là cam kết ngụy. Xưa nay có khi nào Tàu bảo sẽ lấy đất, lấy biển của Việt Nam đâu, họ toàn đòi cái của họ thôi. Họ bảo Hoàng Sa là của tao nhé. Bản Giốc là của tao nhé. Cái lưỡi bò to đùng trên Biển Đông cũng của họ tao nhé. Tao đòi cái của tao, không thèm lấy đất lấy biển của chúng mày đâu nhé. Mai mốt họ đem quân tràn sang nước ta, thế nào họ cũng bảo tao dạy cho chúng mày mấy bài học, tát cho mày mấy tát, chứ không thèm xâm lược chúng mày đâu nhé.

Vì cái món cam kết Tàu cho nên mình rất sợ khi nghe tướng Vịnh nói “Việt Nam cũng không bao giờ nhượng bộ vô nguyên tắc về chủ quyền”. Cứ nghĩ chủ quyền của một dân tộc là bất khả xâm phạm, cũng có nghĩa là bất khả nhượng bộ, té ra không phải. Khi tướng Vịnh nói không nhượng bộ vô nguyên tắc thì người ta hiểu rằng ta sẽ ( hoặc đã) nhượng bộ có nguyên tắc về chủ quyền?

Có một nguyên tắc bảo vệ chủ quyền, đây là chân lý “không có gì quí hơn độc lập tự do” của Bác Hồ. TBT Nguyễn Phú Trọng vừa tuyên bố: “Độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ là thiêng liêng“, ai cũng đinh ninh đó là nguyên tắc vàng bảo vệ chủ quyền của bất kì một dân tộc nào. Bây giờ mới biết còn có nguyên tắc nhượng bộ, nguyên tắc nhượng bộ là nguyên tắc gì vậy ta?

Chợt nhớ câu thơ của Đỗ Trung Quân: ” Rõ rồi nhé, rõ mồn một rồi nhé” , tự nhiên giật mình toát mồ hôi hột.

Sợ lắm sợ lắm.

Nguồn: quecho.info

Thứ Hai, 22 tháng 8, 2011

BIỂN ĐÔNG - TƯƠNG LAI CỦA XUNG ĐỘT.


Chiến trường quyết định của thế kỷ 21 sẽ là trên mặt nước.

Robert D. Kaplan

Châu Âu là một bức địa cảnh; Đông Á là một bức thủy cảnh. Trong đó ẩn chứa một sự khác biệt chủ yếu giữa hai thế kỷ 20 và 21. Những khu vực bị tranh chấp nhiều nhất trên thế giới trong thế kỷ vừa qua nằm trên đất liền khô cạn ở châu Âu, đặc biệt là trong sự mở rộng mặt bằng tạo nên những đường biên giới giả tạo ở phía đông và phía tây nước Đức và phơi ra cho cuộc hành quân bất lay chuyển của quân đội. Nhưng trong nhiều thập niên, trục nhân khẩu học và kinh tế của Trái Đất đã dịch chuyển đáng kể đến tận cùng bên kia của lục địa Âu – Á, nơi không gian giữa những trung tâm dân số lớn chủ yếu là biển.

Nhờ cách thức mà địa lý học giải thích và đặt ra các ưu tiên, những đường nét tự nhiên của Đông Á báo trước một thế kỷ hải quân – hải quân ở đây được xác định theo nghĩa rộng bao gồm cả các đội hình chiến đấu trên biển và trên không mà giờ đây đã trở nên ngày càng phức tạp. Tại sao? Trung Quốc, đặc biệt là hiện nay khi các đường biên giới trên bộ của nước này an toàn hơn so với bất cứ thời nào kể khi Nhà Thanh cực thịnh vào cuối thế kỷ 18, đang bận rộn trong việc mở rộng hải quân một cách không thể chối cãi. Chính nhờ sức mạnh trên biển mà Trung Quốc sẽ xóa bỏ về mặt tâm lý hai thế kỷ những tội ác của nước ngoài trên lãnh thổ của mình – buộc tất cả các nước xung quanh phải phản ứng.

Giao chiến quân sự trên đất liền và trên biển rất khác biệt, có những tác động lớn đến các chiến lược lớn cần thiết để chiến thắng – hoặc né tránh – chúng. Giao chiến trên đất liền vướng víu dân thường, trên thực tế làm cho các quyền con người trở thành một yếu tố nổi bật của các nghiên cứu chiến tranh. Đánh nhau trên biển tiếp cận xung đột như một vấn đề lâm sàng và mang tính kỹ trị, trên thực tế giảm thiểu chiến tranh thành toán học, tương phản rõ rệt với các trận chiến trí tuệ vốn đã giúp định rõ các cuộc xung đột trước kia.

Thế chiến II là một cuộc đấu tranh đạo đức chống lại chủ nghĩa phát xít, hệ tư tưởng chịu trách nhiệm về cái chết của hàng chục triệu người không tham chiến. Chiến tranh Lạnh là một cuộc chiến đạo đức chống lại chủ nghĩa cộng sản, hệ tư tưởng áp bức tương tự đã cai trị các vùng lãnh thổ rộng lớn mà Hồng quân Liên Xô chiếm đoạt. Thời kỳ ngay sau Thế chiến II trở thành một cuộc chiến đạo lý chống lại tội diệt chủng ở vùng Balkan và Trung Phi, hai nơi mà chiến tranh trên đất liền và các tội ác chống loài người luôn song hành. Gần đây hơn, một cuộc chiến đạo đức chống lại Hồi giáo cực đoan đã lôi kéo Mỹ vào sâu các vùng đồi núi Afghanistan, nơi sự đối xử nhân đạo với hàng triệu dân thường có tính quyết định đối với thành công của cuộc chiến. Trong tất cả những nỗ lực ấy, chính sách ngoại giao và chiến tranh đã trở thành các đề tài không chỉ cho lính tráng và các nhà ngoại giao mà còn cho cả giới nghiên cứu nhân văn và trí thức. Quả thực, việc chống chiến tranh du kích thể hiện đỉnh cao của nhiều sự kết hợp giữa các sĩ quan quân phục và các chuyên gia nhân quyền. Đây là kết cục của loại chiến tranh trên bộ phát triển thành một cuộc chiến toàn diện ở thời hiện đại.

Đông Á, hay chính xác hơn là Tây Thái Bình Dương, nơi đang nhanh chóng trở thành tâm điểm mới của các hoạt động hải quân thế giới, báo trước một động lực hoàn toàn khác biệt về cơ bản. Nhiều khả năng khu vực này sẽ tạo ra một số cuộc chiến đạo đức mà chúng ta đã quen trong thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21, với ngoại lệ là khả năng xa về một cuộc chiến trên bộ ở Bán đảo Triều Tiên. Tây Thái Bình Dương sẽ giao trả các vấn đề quân sự cho lĩnh vực chật hẹp của các chuyên gia quốc phòng. Điều này không phải chỉ bởi chúng ta đang đối phó một lĩnh vực hải quân, trong đó dân thường không hiện diện, mà còn bởi vì bản chất của chính các quốc gia ở Đông Á, như Trung Quốc chẳng hạn, có thể rất độc đoán nhưng trong hầu hết các trường hợp lại không bạo ngược hoặc độc ác cực điểm.

Cuộc đấu giành vị trí đứng đầu ở Tây Thái Bình Dương sẽ không nhất thiết phải dính đến chiến tranh; phần lớn những gì xảy ra sẽ xảy ra một cách êm ả và ở ngoài đường chân trời trên không phận biển trống vắng, ở một nhịp độ lạnh lùng phù hợp với sự điều chỉnh đều đặn, chậm rãi theo sức mạnh quân sự và kinh tế ưu việt hơn mà các nước đã tạo dựng được qua lịch sử. Chiến tranh còn lâu mới xảy ra ngay cả khi cạnh tranh là một sự định sẵn. Và nếu Trung Quốc và Mỹ giải quyết thành công cuộc bàn giao sắp tới thì châu Á và cả thế giới sẽ trở thành một nơi phồn thịnh, an toàn hơn. Còn điều gì đạo đức hơn thế? Hãy nhớ: Chính chủ nghĩa hiện thực phục vụ lợi ích quốc gia – mục đích là tránh chiến tranh – đã cứu sống nhiều nhân mạng trong suốt chiều dài lịch sử hơn so với chủ nghĩa can thiệp nhân đạo.

Đông Á là một dải rộng lớn, trải dài gần như từ Bắc Cực tới Nam Cực – từ quần đảo Kuril về phía nam tới New Zealand – và có đặc điểm là một dãy đứt đoạn các bờ biển riêng biệt và các quần đảo trải rộng bao la. Ngay cả tính đến việc công nghệ đã rút ngắn khoảng cách hiệu quả đến thế nào thì vùng biển này tự nó vẫn đóng vai trò như một hàng rào ngăn xâm lược, ít nhất cũng ở một mức độ mà đất liền khô cạn không thể làm được. Không giống như đất liền, vùng biển này tạo thành các đường biên giới được định rõ, cho phép nó có khả năng làm giảm xung đột. Bên cạnh đó cần tính đến tốc độ. Ngay cả các tàu chiến nhanh nhất cũng di chuyển tương đối chậm chạp, 35 hải lý, làm giảm bớt cơ hội của tính toán sai và cho các nhà ngoại giao nhiều giờ hơn – thậm chí nhiều ngày hơn – để xem xét lại các quyết định. Các lực lượng hải quân và không quân đơn giản là không chiếm đóng lãnh thổ theo cách các quân đội vẫn làm. Chính nhờ các vùng biển xung quanh Đông Á – trung tâm sản xuất của thế giới cũng như số hợp đồng mua sắm quân sự ngày càng tăng – mà thế kỷ 21 có một cơ hội tốt hơn so với thế kỷ 20 trong việc tránh những cuộc xung đột quân sự lớn.

Tất nhiên, Đông Á đã chứng kiến nhiều xung đột quân sự lớn trong thế kỷ 20 mà các vùng biển đã không ngăn chặn được: Chiến tranh Nga – Nhật; nội chiến gần nửa thế kỷ ở Trung Quốc xảy ra với sự sụp đổ từ từ của Nhà Thanh; nhiều cuộc chinh phạt của đế quốc Nhật, tiếp đến là Thế chiến II ở Thái Bình Dương; cuộc chiến Triều Tiên; các cuộc chiến ở Campuchia và Lào; và hai cuộc chiến ở Việt Nam liên quan tới Pháp và Mỹ. Thực tế địa lý Đông Á chủ yếu là biển đã có rất ít ảnh hưởng đến những cuộc chiến tranh mà tâm điểm của chúng là các xung đột về thống nhất hoặc giải phóng dân tộc. Nhưng thời đại ấy phần lớn nằm phía sau chúng ta. Các quân đội ở Đông Á, thay vì tập trung vào bên trong với các đội quân công nghệ thấp, nay đang hướng ra ngoài với các lực lượng hải quân và không quân công nghệ cao.

Ví Trung Quốc ngày nay với nước Đức trước Thế Chiến I như nhiều người có thể so sánh thì không đúng. Trong khi Đức chủ yếu là một cường quốc đất liền, do địa thế của châu Âu, thì Trung Quốc sẽ là một cường quốc hải quân, do địa lý của Đông Á.

Đông Á có thể chia thành hai khu vực chung: Đông Bắc Á – bị chi phối bởi Bán đảo Triều Tiên, và Đông Nam Á, bị chi phối bởi Biển Đông. Đông Bắc Á xoay quanh vận mệnh Bắc Triều Tiên, một đất nước bị cô lập và chuyên chế với tương lai u mê trong một thế giới do chủ nghĩa tư bản và liên lạc điện tử chi phối. Nếu Bắc Triều Tiên nổ tung, các lực lượng trên bộ của Hàn Quốc, Mỹ và Trung Quốc có thể chạm trán nhau trên nửa bắc của Bán đảo trong khởi nguồn của mọi sự can thiệp nhân đạo, ngay cả khi họ chia ra các khu vực ảnh hưởng cho chính mình. Các lực lượng hải quân sẽ là thứ yếu. Nhưng một sự thống nhất sau cùng của Triều Tiên sẽ sớm đưa các lực lượng hải quân lên vị trí chỉ đạo, với một Triều Tiên thống nhất, Trung Quốc, và Nhật Bản trong sự cân bằng mong manh, cách nhau bởi Biển Nhật Bản, Hoàng Hải và Bột Hải. Tuy nhiên, do Bắc Triều Tiên vẫn tồn tại nên giai đoạn Chiến tranh Lạnh trong lịch sử Đông bắc Á vẫn chưa kết thúc hoàn toàn, và sức mạnh trên bộ có thể sẽ chi phối tin tức ở đó trước khi sức mạnh trên biển làm được điều này.

Trái lại, Đông Nam Á đang chìm sâu vào giai đoạn hậu Chiến tranh Lạnh của lịch sử. Việt Nam, nước chiếm ưu thế trên bờ phía tây Biển Đông, là một sự tàn phá tư bản chủ nghĩa bất chấp hệ thống chính trị của nước này, đang tìm kiếm các mối quan hệ quân sự thân thiết hơn với Mỹ. Trung Quốc, thống nhất như một nhà nước của triều đại Mao Trạch Đông sau nhiều thập niên hỗn loạn và trở thành nền kinh tế năng động nhất thế giới nhờ những mở rộng tự do của Đặng Tiểu Bình, đang vươn ra bên ngoài bằng lực lượng hải quân tới những gì mà họ gọi là “chuỗi đảo đầu tiên” ở Tây Thái Bình Dương.

Nước đông dân Hồi giáo Indonesia, đã phải chịu đựng và rút cục chấm dứt được nhiều chục năm quân đội cầm quyền, đang sẵn sàng nổi lên như một Ấn Độ thứ hai – một nền dân chủ năng động và ổn định với khả năng phóng sức mạnh theo cách nền kinh tế đang tăng trưởng của nước này. Singapore và Malaysia cũng đang nổi lên về kinh tế, đi theo mô hình nhà nước-thành phố-kết hợp-nhà nước-kinh doanh và thông qua những pha trộn khác nhau của dân chủ và độc tài. Bức tranh ghép đủ màu là một cụm các quốc gia, với những vấn đề về tính hợp pháp nội địa và xây dựng đất nước nằm đằng sau, đã sẵn sàng nâng cao nhận thức về các quyền lãnh thổ vượt ra ngoài bờ biển của họ. Sức đẩy chung ra phía ngoài nằm trong buồng lái nhân khẩu học của thế giới, vì nó nằm ở Đông Nam Á với 615 triệu dân, nơi 1,3 tỷ người của Trung Quốc tập trung cùng 1,5 tỷ người của tiểu lục địa Ấn Độ. Và nơi gặp gỡ địa lý của các quốc gia này, cùng quân đội của họ, là biển: Biển Đông.

Biển Đông nối các nước Đông Nam Á với Tây Thái Bình Dương, có chức năng như một yết hầu của các tuyến đường biển quốc tế. Đây là trung tâm hàng hải của của Âu-Á, được nhấn mạnh bằng các eo biển Malacca, Sunda, Lombok, và Makassar. Hơn nửa số lượng tàu buôn hàng năm của thế giới cùng một phần ba tất cả các hoạt động hàng hải phải chạy qua những điểm eo hẹp này. Dầu lửa được vận chuyển qua Eo biển Malacca từ Ấn Độ Dương, trên đường tới Đông Á qua Biển Đông, nhiều gấp 6 lần so với số lượng được chuyển qua Kênh đào Suez và 17 lần so với số lượng qua Kênh đào Panama. Xấp xỉ 2/3 các nguồn cung năng lượng của Hàn Quốc, gần 60% các nguồn cung năng lượng của Nhật Bản và Đài Loan, và khoảng 80% lượng dầu thô nhập khẩu của Trung Quốc đi qua Biển Đông. Không chỉ có thế, Biển Đông còn được chứng minh có các mỏ dầu 7 tỷ thùng và ước tính 900 nghìn tỷ feet khối khí tự nhiên, một phần thưởng rất lớn về tiềm năng.

Không chỉ vị trí và dự trữ năng lượng hứa hẹn mang lại cho Biển Đông tầm quan trọng địa chiến lược then chốt mà cả những tranh cãi lãnh thổ từ lâu xung quanh vùng biển này. Một số tranh chấp liên quan tới Trường Sa, một quần đảo nhỏ ở phía đông nam Biển Đông. Việt Nam, Đài Loan và Trung Quốc mỗi bên đều tuyên bố chủ quyền ở tất cả hoặc hầu hết Biển Đông, cũng như tất cả các nhóm đảo Trường Sa và Hoàng Sa. Đặc biệt, Bắc Kinh còn khẳng định một tuyến đường lịch sử: nước này đòi chủ quyền tận trung tâm của Biển Đông trong một đường cong lớn (được biết đến rộng rãi là đường lưỡi bò) từ đảo Hải Nam ở cực bắc của Biển Đông hướng về phía nam dài 1.200 dặm tới gần Singapore và Malaysia.

Kết quả là cả 9 quốc gia dính đến Biển Đông đều ít nhiều dàn trận chống lại Trung Quốc, và vì thế dựa vào Mỹ về hỗ trợ ngoại giao và quân sự. Những tuyên bố xung đột đó nhiều khả năng sẽ còn kịch liệt hơn khi các nhu cầu về năng lượng tăng cao ở châu Á – mức tiêu thụ năng lượng được cho là tăng gấp đôi vào năm 2030, với Trung Quốc chiếm gần một nửa mức tăng đó – làm cho Biển Đông trở thành một sự bảo đảm quan trọng hơn bao giờ hết cho sức mạnh kinh tế của khu vực. Biển Đông đã trở thành một trại vũ trang, khi các bên tuyên bố chủ quyền xây dựng và hiện đại hóa hải quân của họ, kể cả khi tranh chấp biển đảo trong những thập niên gần đây hầu như đã chấm dứt. Đến nay, Trung Quốc đã chiếm 12 đặc điểm địa lý, Đài Loan chiếm 1, Việt Nam 25, Philippines 8 và Malaysia 5.

Chính địa lý của Trung Quốc định hướng nước này theo hướng Biển Đông. Trung Quốc nhìn về phương nam hướng tới một lòng chảo nước được hình thành, theo chiều kim đồng hồ, bởi Đài Loan, Philippines, đảo Borneo chia tách giữa Malaysia và Indonesia (cả Brunei nhỏ bé), Bán đảo Malay phân chia giữa Thái Lan và Malaysia, và dải bờ biển dài như rắn lượn của Việt Nam: tất cả đều là các nước yếu, so với Trung Quốc. Giống như Biển Caribbe, được nhấn mạnh bởi các quốc đảo nhỏ và được bao quanh bởi nước Mỹ to như lục địa, Biển Đông rõ ràng là một vũ đài cho việc phóng tỏa quyền lực của Trung Quốc.

Do vậy, vị trí của Trung Quốc ở đây theo nhiều cách rất giống với vị trí của Mỹ đối diện với Carribe rộng tương tự hồi thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20. Mỹ công nhận sự hiện diện và các tuyên bố của nhiều cường quốc châu Âu ở Caribbe nhưng vẫn tìm cách thống trị cả khu vực. Chính cuộc chiến Tây Ban Nha – Mỹ năm 1898 và việc đào kênh Panama từ năm 1904 tới 1914 đã báo hiệu sự xuất hiện của Mỹ như một cường quốc thế giới. Hơn nữa, sự thống trị vùng Caribbe rộng lớn hơn giúp Mỹ kiểm soát hiệu quả vùng Tây Bán Cầu, cho phép nước này gây ảnh hưởng đến cán cân quyền lực ở Đông Bán Cầu. Và ngày nay, Trung Quốc tự thấy mình trong tình thế tương tự ở Biển Đông, một phòng chờ của Ấn Độ Dương, nơi Trung Quốc cũng thèm khát một sự hiện diện của hải quân để bảo vệ các nguồn cung năng lượng của mình từ Trung Đông.

Tuy nhiên, một thứ sâu sắc và cảm động hơn địa lý đang thúc đẩy Trung Quốc tiến vào Biển Đông và tiến ra Thái Bình Dương: đó là sự tan rã một phần của chính Trung Quốc bởi các cường quốc phương Tây trong quá khứ tương đối gần đây, sau khi đã trở thành một sức mạnh vĩ đại và một nền văn minh thế giới trong nhiều thiên niên kỷ.

Trong thế kỷ 19, Nhà Thanh trở thành một kẻ bệnh tật của Đông Á. Trung Quốc mất rất nhiều lãnh thổ vào tay Anh, Pháp, Nhật và Nga. Thế kỷ 20 chứng kiến cuộc thôn tính đẫm máu của Nhật Bản đối với Bán đảo Sơn Đông và Mãn Châu. Tất cả những điều đó là sự nhục nhã đỉnh điểm ép buộc Trung Quốc bằng các thỏa thuận đặc quyền ngoại giao của thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, nhờ đó các nước phương Tây giành quyền kiểm soát nhiều phần của các thành phố Trung Quốc – được gọi là “các hải cảng mở cho thương mại nước ngoài”. Năm 1938, như sử gia Jonathan D. Spence của Đại học Yale, nói cho chúng ta biết trong cuốn “The Search for Modern China”, do những vụ cướp bóc này cùng với Cuộc Nội chiến Trung Quốc mà vẫn còn âm ỉ nỗi sợ rằng “Trung Quốc sắp bị chặt chân tay, khiến nước này không thể tồn tại như một quốc gia, và rằng lịch sử 4000 năm được ghi lại của họ sẽ tiến tới một hồi kết điếng người”. Việc Trung Quốc hối hả mở rộng là một lời tuyên bố rằng nước này sẽ không bao giờ để cho người ngoài lợi dụng một lần nữa.

Giống như lãnh thổ Đức tạo nên mặt trận quân sự tiền phương của Chiến tranh Lạnh, các vùng nước ở Biển Đông có thể hình thành một mặt trận quân sự tiền phương cho những thập niên sắp tới. Khi Hải quân Trung Quốc trở nên mạnh mẽ hơn, và khi những đòi hỏi của Trung Quốc ở Biển Đông trái ngược với những tuyên bố của các nước ven biển khác, các nước này sẽ buộc phải phát triển hơn nữa các khả năng hải quân của mình. Họ cũng sẽ cân bằng trước Trung Quốc bằng cách tăng cường dựa vào Hải quân Mỹ, lực lượng có sức mạnh đã đạt đến đỉnh cao trong các điều kiện tương đối, ngay cả khi phải chuyển hướng các nguồn lực lớn tới Trung Đông. Đa cực khắp thế giới đã là một đặc điểm của ngoại giao và kinh tế, nhưng Biển Đông có thể cho chúng ta thấy đa cực thực sự sẽ như thế nào theo nghĩa quân sự.

Chẳng có gì lãng mạn về mặt trận mới này, cũng không có nghĩa như các cuộc chiến đấu đạo đức. Trong các cuộc xung đột hải quân, nếu không có pháo kích trên bờ thì tự nó không có nạn nhân; cũng không có một kẻ thù can đảm để mà đối đầu. Chẳng có gì ở quy mô thanh trừng sắc tộc có khả năng xảy ra ở chiến trường trung tâm mới của xung đột. Trung Quốc, tuy những người bất đồng chính kiến vẫn phải chịu đựng, đơn giản là không đến độ là mục tiêu của cơn thịnh nộ đạo đức. Chế độ Trung Quốc chỉ thể hiện một phiên bản hàm lượng calo thấp của chủ nghĩa độc đoán, với một nền kinh tế tư bản và một chút ý thức hệ chủ đạo để mà nói đến. Hơn nữa, Trung Quốc nhiều khả năng sẽ trở thành một xã hội cởi mở hơn chứ không khép lại trong những năm tới. Thay vì chủ nghĩa phát xít hay chủ nghĩa quân phiệt, Trung Quốc – cùng với các nước khác ở Đông Á – đang ngày càng được xác định bởi sự tồn tại của chủ nghĩa dân tộc kiểu cũ: một ý tưởng, chắc chắn vậy, nhưng không phải là loại hấp dẫn giới trí thức từ giữa thế kỷ 19. Và ngay cả nếu Trung Quốc có trở nên dân chủ hơn thì chủ nghĩa dân tộc của họ cũng chỉ có khả năng tăng lên, như được tỏ rõ trong một cuộc khảo sát ngẫu nhiên về quan điểm của các cư dân mạng khá tự do của nước này.

Chúng ta thường nghĩ về chủ nghĩa dân tộc như một tình cảm phản động, một di vật của thế kỷ 19. Tuy nhiên, chính chủ nghĩa dân tộc truyền thống đã thúc đẩy chính trị ở châu Á, và sẽ tiếp tục làm như thế. Chủ nghĩ dân tộc ấy dang dẫn dắt một cách không cần biện giải tới sự lớn mạnh của quân đội các nước trong khu vực – đặc biệt là hải quân và không quân – để bảo vệ chủ quyền và tuyên bố chủ quyền đối với các nguồn tài nguyên tranh chấp. Không có sự quyến rũ triết lý ở đây. Tất cả là về một logic lạnh lùng của cán cân quyền lực. Đến mức độ đó, chủ nghĩa hiện thực vô cảm, vốn liên kết với chủ nghĩa dân tộc, có một ngôi nhà địa lý, đó là Biển Đông.

Bất cứ thảm kịch đạo đức nào xảy ra ở Đông Á đều sẽ mang hình thức chính trị quyền lực khắc khổ của loại khiến rất nhiều trí thức và nhà báo tê liệt. Như Thucydides đã giải thích rất đáng nhớ trong câu chuyện ông kể về cuộc chinh phạt đảo Melos của người Athens cổ đại. “Kẻ mạnh làm những gì họ có thể và kẻ yếu chịu đựng những gì họ phải chịu”. Trong câu chuyện kể lại của thế kỷ 21, với Trung Quốc trong vai trò của người Athen như một cường quốc biển vượt trội trong khu vực, kẻ yếu vẫn phải cam chịu – nhưng chỉ thế thôi. Đây sẽ là chiến lược im ỉm của Trung Quốc và các nước nhỏ hơn ở Đông Nam Á có thể liên kết với Mỹ để tránh số phận của người Melo. Nhưng sẽ không có tàn sát ở đó.

Biển Đông báo trước một hình thức xung đột khác so với những cuộc xung đột mà chúng ta từng biết đến. Từ đầu thế kỷ 20, chúng ta đã bị tổn thương bởi một mặt là những trận chiến lớn theo lối cổ truyền trên bộ, mặt khác là những cuộc chiến nhỏ bẩn thỉu và bất thường. Vì cả hai loại chiến tranh này đều gây thương vong lớn cho dân thường nên chiến tranh đã trở thành một chủ đề cho những người theo chủ nghĩa nhân văn cùng các tướng lĩnh. Nhưng trong tương lai, chúng ta chỉ có thể chứng kiến một hình thức thuần túy hơn của xung đột, giới hạn trong lĩnh vực hải quân. Đây là một viễn cảnh tích cực. Xung đột không thể bị loại bỏ hoàn toàn khỏi thân phận con người. Một chủ đề trong “Các luận đàm về Livy” của Machiavelli là xung đột đó, nếu được kiểm soát đúng đắn, sẽ có khả năng dẫn đến tiến bộ của loài người hơn so với sự ổn định cứng nhắc. Một vùng biển đầy tàu chiến không mâu thuẫn với một kỷ nguyên tràn đầy hứa hẹn cho châu Á. Sự bất an thường nuôi dưỡng động lực.

Nhưng liệu xung đột ở Biển Đông có thể kiểm soát một cách đúng đắn không? Đến đây, lập luận của tôi cho rằng một cuộc chiến tranh lớn sẽ không nổ ra trong khu vực và thay vào dó, các nước sẽ bằng lòng để khôn khéo giành ưu thế với các tàu chiến của họ ở các vùng biển cả, trong khi vẫn đưa ra các tuyên bố cạnh tranh các nguồn tài nguyên thiên nhiên và có lẽ còn đồng ý phân chia chúng một cách công bằng. Nhưng ra sao nếu Trung Quốc, đi ngược lại mọi xu hướng dựa trên bằng chứng, xâm lược Đài Loan? Thế nào nếu Trung Quốc và Việt Nam, hai nước hiện đang cạnh tranh gay gắt bắt nguồn từ sâu trong lịch sử, xảy ra chiến tranh như hồi năm 1979, với nhiều vũ khí gây chết người hơn thời nay? Vì không chỉ một mình Trung Quốc đang xây dựng mạnh mẽ quân đội của mình, các nước Đông Nam Á cũng thế. Ngân sách quốc phòng của họ tăng lên khoảng 1/3 trong thập niên qua, ngay cả khi ngân sách quốc phòng của các nước châu Âu đã giảm bớt. Nhập khẩu vũ khí vào Indonesia, Singapore, và Malaysia lần lượt tăng 84%, 146%, và 722% kể từ năm 2000. Chi tiêu đều dành cho các nền tảng của hải quân và không quân: chiến hạm trên mặt nước, tàu ngầm với các hệ thống tên lửa tân tiến, và các phi cơ chiến đấu tầm xa. Mới đây, Việt Nam đã chi 2 tỷ USD mua 6 tàu ngầm hạng Kilo tối tân và 1 tỷ USD mua các chiến đấu cơ của Nga. Malaysia vừa mở một căn cứ tàu ngầm trên đảo Borneo. Mặc dù Mỹ bị phân tâm bởi các cuộc chiến trên bộ ở Trung Đông, sức mạnh quân sự của nước này vẫn đang lặng lẽ dịch chuyển từ châu Âu đến châu Á.

Mỹ hiện thời đang bảo đảm cho hiện trạng không yên ở Biển Đông, hạn chế sự xâm lược của Trung Quốc chủ yếu trên các bản đồ và giữ vai trò như một sự kiểm tra đối với các nhà ngoại giao và hải quân của Trung Quốc (nhưng điều này không phải để nói rằng Mỹ trong sáng trong các hành động của mình còn Trung Quốc tự là kẻ ác). Những gì Mỹ mang đến cho các nước trong khu vực Biển Đông không nhiều thực tế về lòng tốt dân chủ bằng sự thật về sức mạnh cơ bắp của nước này. Chính sự cân bằng quyền lực giữa Mỹ và Trung Quốc rụt cục sẽ giữ cho Việt Nam, Đài Loan, Philippines, Indonesia, Singapore và Malaysia được tự do, có thể kích bẩy cường quốc này chống lại cường quốc kia. Và trong không gian tự do đó, chủ nghĩa khu vực có thể nổi lên như một sức mạnh của chính nó, dưới hình thức ASEAN. Tuy nhiên, loại tự do như vậy không tự nhiên mà có. Vì sự bế tắc căng thẳng đang diễn ra giữa Mỹ và Trung Quốc – vốn mở rộng thành một loạt các chủ đề phức tạp từ thương mại, cải cách tiền tệ, an ninh mạng đến giám sát tình báo – các mối đe dọa rút cục sẽ làm thay đổi thiện cảm của Trung Quốc ở Đông Á, chủ yếu là do trung tâm địa lý của Trung Quốc đối với khu vực.

Tổng kết toàn diện nhất của cảnh quan địa chính trị châu Á không đến từ Bắc Kinh hay Washington mà từ Canberra. Trong một bài viết dài 74 trang được xuất bản năm ngoái, “Dịch chuyển quyền lực: Tương lai của Australia giữa Washington và Bắc Kinh”, tác giả Hugh White, giáo sư nghiên cứu chiến lược tại Đại học quốc gia Australia, mô tả đất nước ông là một cường quốc “nguyên trạng” tinh hoa – một nước đang hết sức muốn tình hình ở châu Á duy trì đúng như hiện nay, với Trung Quốc tiếp tục phát triển để Australia có thể buôn bán ngày càng nhiều hơn với nước này, trong khi Mỹ vẫn là “quyền lực mạnh nhất ở châu Á” để luôn là “người bảo vệ tối thượng” của Australia. Tuy nhiên, như White viết, vấn đề là cả hai điều này đều không thể diễn ra. Châu Á không thể tiếp tục thay đổi về kinh tế mà không thay đổi về chính trị và chiến lược; một nền kinh tế khổng lồ Trung Quốc tất nhiên sẽ không hài lòng với vị thế đứng đầu quân sự của Mỹ ở châu Á.

Vậy Trung Quốc muốn gì? Giáo sư White cho rằng, Trung Quốc có thể mong muốn một loại đế chế kiểu mới ở châu Á mà Mỹ đã xây dựng ở Tây Bán cầu ngay khi Washington đảm bảo sự thống trị đối với Lòng chảo Caribbe (như Bắc Kinh hy vọng sẽ thống trị Biển Đông). Đế chế kiểu mới này, theo diễn giải của White, có nghĩa là các nước láng giềng của Mỹ “ít hay nhiều sẽ tự do điều hành đất nước của chính họ”, ngay cả khi Washington có khẳng định rằng các quan điểm của nước này sẽ được “xem xét toàn diện” và được ưu tiên so với những quan điểm của các cường quốc bên ngoài. Vấn đề với mô hình này là Nhật Bản, nước có thể sẽ không chấp nhận sự bá chủ của Trung Quốc, dù là mềm mỏng. Điều đó khiến Bản hòa tấu mô hình châu Âu, trong đó Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, Mỹ, và có lẽ một hoặc hai nước khác nữa ngồi xuống bàn thương lượng về sức mạnh châu Á ngang bằng nhau. Nhưng liệu Mỹ có chấp nhận một vai trò khiêm tốn như vậy vì nước này đã gắn kết sự thịnh vượng và ổn định của châu Á với sự ưu việt của chính mình? Giáo sư White cho rằng, trong khi đối diện với sức mạnh đang lên của Trung Quốc, sự thống trị của Mỹ từ nay trở về sau có thể lại có nghĩa là bất ổn cho châu Á.

Sự thống trị của Mỹ được khẳng định dựa trên khái niệm rằng vì Trung Quốc là một chế độ độc đoán trong nước nên họ sẽ hành động “không thể chấp nhận được ở nước ngoài”. Nhưng có thể không phải như vậy, White lập luận. Quan niệm về mình của Trung Quốc là quan niệm của một cường quốc ôn hòa không bá quyền, một nước không can thiệp vào công việc nội bộ của các nước khác theo cách mà Mỹ – với giáo lý của kẻ bao biện – vẫn làm. Bởi vì Trung Quốc tự nhận mình là một Vương quốc Trung dung, với nền tảng thống trị của họ là vị trí trung tâm vốn có của nước này với lịch sử thế giới, chứ không phải bất kỳ một hệ thống nào mà họ tìm cách xuất khẩu.

Nói cách khác, Mỹ, chứ không phải Trung Quốc, có thể là vấn đề trong tương lai. Chúng ta có thể thực sự quan tâm quá nhiều đến bản chất nội bộ của chính quyền Trung Quốc và tìm cách hạn chế sức mạnh của Trung Quốc ở nước ngoài bởi vì chúng ta không thích các chính sách trong nước của họ. Thay vào đó, mục tiêu của Mỹ ở châu Á nên là sự cân bằng, chứ không phải thống trị. Chính xác là bởi vì quyền lực cứng vẫn là chìa khóa cho các mối quan hệ quốc tế và chúng ta phải nhường chỗ cho một Trung Quốc đang lên. Mỹ không cần tăng sức mạnh hải quân của mình ở Tây Thái Bình Dương nhưng thực chất cũng không thể giảm bớt lực lượng này.

Việc mất đi một đội hàng không mẫu hạm Mỹ ở Tây Thái Bình Dương do cắt giảm ngân sách hoặc do tái bố trí đến Trung Đông có thể gây ra những cuộc thảo luận căng thẳng trong khu vực về sự suy giảm của Mỹ và hậu quả cần phải thực hiện những sửa đổi và các thỏa thuận với Bắc Kinh. Hoàn cảnh tốt nhất là sự hiện diện của hải quân và không quân Mỹ ở một mức độ nhiều hơn hoặc ít hơn hiện nay, ngay cả khi Mỹ phải dùng mọi sức mạnh của mình để xây dựng các mối quan hệ thất thiết và có thể dự báo trước với Trung Quốc. Bằng cách đó, Mỹ có thể điều chỉnh theo thời gian với một lực lượng hải quân viễn dương Trung Quốc. Trong các vấn đề quốc tế, đằng sau mọi câu hỏi về đạo đức đều ẩn chứa vấn đề quyền lực. Sự can thiệp nhân đạo tại vùng Balkan chỉ có thể bởi vì chế độ Serbia quá yếu, không giống như chính quyền Nga phạm các tội ác với quy mô tương tự ở Chechnya nhưng phương Tây không có hành động gì. Ở Tây Thái Bình Dương trong những thập niên tới đây, đạo đức có thể có nghĩa là từ bỏ một số các ý tưởng thân thương nhất của chúng ta vì lợi ích của sự ổn định. Chúng ta sẽ thế nào để tạo chỗ trống cho một Trung Quốc gần như độc tài khi quân đội nước này mở rộng? Bản thân sự cân bằng quyền lực, thậm chí nhiều hơn các giá trị dân chủ của phương Tây, thường là sự bảo vệ tốt nhất cho tự do. Đó cũng sẽ là một bài học của Biển Đông trong thế kỷ 21 – một bài học khác mà những người hay lý tưởng hóa không muốn nghe.

Robert D. Kaplan là một chuyên viên cấp cao của Trung tâm vì một An ninh Mỹ mới, nhà báo quốc gia cho The Atlantic, và một thành viên của Hội đồng Chính sách Quốc phòng thuộc Bộ Quốc phòng Mỹ. Ông là tác giả cuốn Monsoon: The Indian Ocean and the Future of American Power.


Người dịch: Trúc An
Nguồn:anhbasam.wordpress.com